Thứ Hai, 17 tháng 5, 2010

'Mỗi anh ôm một ít'

Cập nhật lúc 06:06, Thứ Bảy, 15/05/2010 (GMT+7)

"Tài nguyên bị băm nát" là trăn trở của tất cả các nhà khoa học dự hội thảo về tài nguyên khoáng sản do VUSTA tổ chức ở Hà Nội.

Các nhà khoa học của Liên hiệp các Hội khoa học - kỹ thuật VN (VUSTA), giới nghiên cứu và quản lý thảo luận cả ngày 14/5 về tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam.

Chạy theo để nắm

Báo cáo của Viện Tư vấn phát triển CODE chỉ rõ, công tác quản lí khai thác khoáng sản còn mang nặng lợi ích kinh tế, tăng trưởng GDP và tư duy nhiệm kì, chưa chú trọng yếu tố phát triển bền vững. 

Quản lý khoáng sản chưa có tổ chức thống nhất đủ thẩm quyền để điều phối các bên liên quan trong việc quản lý bảo vệ và khai thác khoáng sản. Hiện nay, hoạt động của một mỏ khai khoáng do nhiều bên chịu trách nhiệm quản lý, giám sát: Bộ Tài nguyên - Môi trường, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng và UBND địa phương.

Việc quản lý chồng chéo, gián đoạn tạo kẽ hở buông lỏng quản lý để các tổ chức, cá nhân lợi dụng… "Khi có vấn đề xảy ra mới phối hợp giải quyết nhưng trách nhiệm không thuộc về ai", ông Phạm Quang Tú từ CODE nói.

Mô tả ảnh.
Khai thác titan ở Ninh Thuận đang làm dấy lên mối lo về các hoang mạc. Ảnh: Báo Ninh Thuận online

"Hiện nay quản lý rời rạc, mỗi anh ôm một ít, khó làm lắm". Thế nên mới có chuyện Phó Giám đốc Sở Công thương Bình Định Nguyễn Văn Thắng than "nhiều lúc chúng tôi phải chạy theo để quản lí việc khai khoáng".

Ông Thắng nói thêm, có nắm được trữ lượng của mỏ, địa phương mới quản lý được. Thế nhưng ở Bình Định, DN báo cáo tới đâu thì chính quyền hay tới đó, không thể kiểm tra. Tiếng là giám sát, quản lý, nhưng sở không biết họ khai thác bao nhiêu và trữ lượng mỏ có bao nhiêu.

Chúng ta quy định không xuất khoáng sản thô ra bên ngoài, song không biết bằng cách nào, đi đường nào và vào lúc nào, mà khoáng sản Việt Nam khai thác xong cứ "chạy" hết sang Trung Quốc, ông Thắng nói. 

"Chúng tôi theo dõi liên tục, tổ chức cả người đi sang giáp biên giới, tại Quảng Ninh, mà không quản lý nổi. Không biết bằng cách nào, khoáng sản vẫn thất thoát đều sang Trung Quốc".

Phó Giám đốc Sở TN-MT Yên Bái Lê Đình Đạo bổ sung, địa phương được giao nhiệm vụ bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, thế nhưng, lại bị giao kiểu "khoán trắng". Muốn kiểm tra, bảo vệ cũng không có ngân sách.

Đào và chặt

Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên lo ngại, dường như mô hình phát triển của Việt Nam thời gian qua là "nhà nước và nhân dân cùng đào".

Cùng hướng vào xuất khẩu như Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng cái khác của chúng ta là dựa nguyên lý "đào, chặt" để xuất khẩu.

Lo lắng của Chủ tịch Tổng hội địa chất VN Nguyễn Khắc Vinh lại là " đào tài nguyên đem bán, nhưng nhu cầu khoáng sản của thế giới ta lại không nắm được... Phát hiện thấy quặng là bới lên để khai mỏ mà không biết sẽ bán cho ai". 

Vì thế, "tài nguyên bị băm nát" là điều trăn trở của tất cả các nhà khoa học tại cuộc hội thảo.

"Chừng nào nhà nước còn dựa vào khai thác tài nguyên là chính, nhân dân cũng sẽ "thi đua" với nhà nước để đào và lén lút bán ra ngoài phần tài nguyên của đất nước", ông Thiên nói.

Hơn lúc nào hết, yêu cầu về một chiến lược phát triển thay thế đang đặt ra cấp thiết, nhằm phát triển bền vững. "Cần tăng năng lực sống để người dân có thể không phải dựa vào tài nguyên mà sống và phát triển".

Ai hưởng lợi?

Phó Giám đốc Sở Công thương Bình Định Nguyễn Văn Thắng đặt vấn đề: "Khai thác khoáng sản nhà nước lợi gì, dân lợi gì, hay chỉ DN là có lợi?".

Tài nguyên thiên nhiên theo luật định là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân, việc khai thác phải đem lại lợi ích cho đa số nhân dân. Thế nhưng, không những không đem lợi, "DN khai thác khoáng sản có khi còn phá đường của dân", TS Vinh nói. "Chỉ đóng vài đồng thuế tài nguyên, cộng thêm "nháy nháy" cho vài quan chức, thế là họ nghiễm nhiên tận thu tài nguyên đất nước".

"DN khai thác xong rồi đi, hệ quả xã hội - môi trường còn lại, đã có nhà nước lo", ông Thắng nói.

Đồng tình, ông  Đào Trọng Hưng (Viện Khoa học - công nghệ VN) nêu quan ngại về cách quản lý tài nguyên theo lãnh thổ, theo ngành hiện nay. Tập đoàn Than - khoáng sản ( TKV) được nhà nước cấp phép, khai thác trong phần lãnh thổ của mình, còn địa phương phải lo dọn hậu quả. 

Ông Hưng dẫn lời một chủ tịch phường ở Quảng Ninh, "mọi hậu quả thì gọi đến phường, còn tàu than ở đâu, phường không được biết".

Theo ông Thắng, cốt lõi của vấn đề khai khoáng là "giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế giữa DN - nhà nước và người dân địa phương"

Ông Trần Đình Thiên nhận định Luật Khoáng sản sửa đổi sắp tới phải là công cụ pháp lý để thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế. 

Tài nguyên đào lên chỉ mới là nguồn lực, nó phải được thị trường hóa. Hiện nay, cấu trúc sở hữu tạo nên các nhóm lợi ích kiểm soát quá trình thị trường hóa nguồn lực, hướng lợi ích vào số ít người. Muốn phát triển bền vững, phải phá vỡ cho được cấu trúc sai lạc đó - ông Thiên khẳng định. 

Phương Loan

Bất cập ngành than

Bất cập ngành than


Theo TS. Nguyễn Thành Sơn: Số liệu về trữ lượng/tài nguyên than do TKV báo cáo lãnh đạo đảng và nhà nước trước đây rất lớn, tạo ra ảo giác là VN có rất nhiều than. Thực tế thăm dò cho thấy, tiềm năng chỉ là dự báo và phỏng đoán.

Ảo giác giàu than

Tiềm năng than của VN được dự báo rất lớn (bể than Đông Bắc khoảng 10 tỷ tấn và bể than Đồng bằng sông Hồng khoảng 210 tỷ tấn) nhưng, trữ lượng đã được thăm dò đến nay là rất nhỏ.

Các số liệu về trữ lượng/tài nguyên than do TKV báo cáo lãnh đạo đảng và nhà nước trước đây rất lớn, tạo ra ảo giác là VN có rất nhiều than. Thực tế, TKV đã hiểu sai các tiêu chí xác định thế nào là trữ lượng dẫn đến kết quả tính rất lớn nhưng phi kỹ thuật và phi kinh tế, chưa phân biệt rõ "trữ lượng" đã được chứng minh sau khi đã có thăm dò và "tiềm năng" chỉ là dự báo và phỏng đoán.

Trong gần 60 năm qua, VN đã đầu tư cho khâu thăm dò than khoảng 5500 lỗ khoan với tổng số hơn 2 triệu mét khoan sâu (mks), tập chung chủ yếu ở Quảng Ninh. Nhờ vậy, ở bể than Đông Bắc đã chứng minh được khoảng hơn 2,5 tỷ tấn than là có thật (trong tổng số khoảng 10 tỷ tấn dự báo).

Vùng Đông Triều-Phả Lại có triển vọng than rất thấp. Tài nguyên dự tính hàng tỷ tấn, nhưng không dựa trên tài liệu thăm dò địa chất (vùng này duy nhất chỉ có 1 báo cáo địa chất của mỏ Cổ Kênh), mà chỉ dựa trên tài liệu của Báo cáo thành lập bản đồ tỷ lệ 1/25.000. Hiện nay, các lỗ đã khoan trong dự án của NEDO đang triển khai cho thấy vùng này ít than.

Ở bể than Đồng bằng sông Hồng, khối lượng công tác thăm dò địa chất hầu như chưa đáng kể (110 lỗ khoan thăm dò than với khoảng 46.230 mks ở vùng Hưng Yên), mới chỉ chứng minh được khoảng 166 triệu tấn trữ lượng than ở vùng Hưng Yên (trong tổng số 210 tỷ tấn dự báo).

Khai thác than lậu ở Quảng Ninh. Ảnh VNN

Gần đây, tham khảo thêm khoảng 100 lỗ khoan thăm dò dầu khí đã gặp than ở vùng Thái Bình, Công ty Năng lượng Sông Hồng của TKV đã thu thập tài liệu và tổng hợp đánh giá tài nguyên than vùng Phủ Cừ-Tiền Hải. Kết quả cho thấy, dự tính đến độ sâu -1200m, ở vùng Phủ Cừ-Tiền Hải có khoảng 37 tỷ tấn tài nguyên suy đoán đến cấp 334b, trong đó, có 7 tỷ tấn ở độ sâu -300m/-600m; 13 tỷ tấn ở độ sâu -600m/-900m và 17 tỷ tấn ở độ sâu -900m/-1200m. Con số 37 tỷ tấn là hiện thực nhất để suy đoán về tài nguyên than của bể than ĐBSH (nên thay cho con số 210 tỷ).

Than bùn ở VN (theo đề tài "Tổng hợp tài liệu địa chất và đánh giá tiềm năng than bùn" do Bộ Mỏ và Than triển khai năm 1985) có tiềm năng khoảng 7,1 tỷ m3 (về nhiệt năng tương đương với tài nguyên than đá từ mức -300m trở lên của bể than QN). Nhưng than bùn nằm phân tán ở 216 điểm mỏ, trên địa bàn của 47 tỉnh, thành. Trong đó, vùng Nam Bộ- 5 tỷ m3, vùng Bắc Bộ- 1,65 tỷ m3, và vùng Trung Bộ- 0,45 tỷ m3.

Than bùn dễ khai thác và có giá trị sử dụng cao (phát điện và làm phân bón). Nhưng, vùng than bùn lớn nhất là Kiên Giang-Minh Hải-Cà Mâu lại thuộc khu bảo tồn sinh thái (là lý do chủ yếu mà Bộ Mỏ và Than trước đây đã không tiếp tục nghiên cứu khai thác than bùn ở khu vực này để làm chất đốt).

Tuy nhiên, trong tương lai, khi nước biển dâng, vùng than bùn này sẽ có nguy cơ bị nhấn chìm, vĩnh viễn sẽ không thể khai thác được.

Theo Tổ chức năng lượng quốc tế, VN chưa có tên trên bản đồ than của thế giới và trong tổng số khoảng 929 tỷ tấn trữ lượng than tin cậy của thế giới tính đến tháng 1/2006, VN chỉ được gộp trong số các nước còn lại của châu Á không nằm trong khối OECD với tổng trữ lượng chung chỉ có 9,7 tỷ tấn.

Thực trạng ngành than thời gian qua

Theo các số liệu gần nhất và đáng tin cậy nhất (văn bản 1566/TKV-KH ngày 31/3/2010 của TKV), thực trạng ngành than trong thời gian 5 năm 2005/2009 như sau:

Về các chỉ tiêu chủ yếu đã thực hiện: tổng than nguyên khai- 203 tr.tấn; tổng than tiêu thụ- 189 tr.tấn; tổng đất đá bốc- 994 triệu m3; tổng đường lò đào mới- 1.366 km; tổng doanh thu- 202.340 tỷ đồng, trong đó, doanh thu từ than- 126.712 tỷ đồng (63%), doanh thu ngoài than- 75.627 tỷ đồng (37%); tổng lợi nhuận trước thuế- 19.903 tỷ đồng; tổng nộp ngân sách- 19.309 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư: 55.839 tỷ đồng, trong đó, đầu tư cho than- 24.534 tỷ đồng (chiếm 44%); vốn đầu tư vay thương mại- 40.291 (chiếm 72%); tổng lao động đến 31/12/2009- 126.000 người; lương bình quân- 5,999 tr.đ/ng.tháng; tổng vốn chủ sở hữu đến 31/12/2009- 17.983 tỷ đồng.

Về thăm dò địa chất: Trong 15 năm qua, tổng số lỗ khoan thăm dò địa chất được TKV thực hiện 2720 lỗ, tổng số mét khoan đạt 675.120mks. Chiều sâu khoan thăm dò bình quân 248m. Đơn giá khoan b/q là 3,5 tr.đ/mks. Kết quả là, trữ lượng than cấp A+B+C1+C2 chỉ tăng từ 3,4 tỷ tấn (năm 1995) lên 3,9 tỷ tấn (năm 2009). trong đó, trữ lượng tin cậy cấp A+B hầu như không thay đổi (năm 1995 có 485,4 tr.tấn, và năm 2009 cũng chỉ có 478,7 tr.tấn), phần tăng thêm của trữ lượng chủ yếu cấp C2 (năm 1995 có 1,198 tỷ tấn, năm 2009 tăng lên 1,609 tỷ tấn).

Mặc dù đầu tư lớn cho khâu thăm dò địa chất (khoảng 2.300 tỷ đồng), nhưng độ tin cậy của trữ lượng (tỷ trọng cấp A+B) lại giảm. Nhiều dự án đầu tư mỏ mới không có đủ trữ lượng tin cậy theo qui định.

Mức độ thăm dò 15 năm qua chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu duy trì sản lượng (đã khai thác 441,6 triệu tấn). Điều này còn chứng tỏ tiềm năng về than của vùng Quảng Ninh không phải như chúng ta hy vọng và việc phát triển các mỏ mới ở vùng Quảng Ninh đang có rủi ro cao về trữ lượng.

Ngoài ra, TKV đã tự điều chỉnh tiêu chí tính trữ lượng than theo hướng đưa vào tính trữ lượng cả những vỉa than không có giá trị và không có khả năng khai thác (chiều dầy tính trữ lượng của vỉa đã được giảm từ 1,0m xuống đến 0,3m, độ tro của than đã được tăng từ 45% lên tới 50%). Hiện nay, trên thế giới, kể cả bằng công nghệ lộ thiên và công nghệ hầm lò đều chưa thể khai thác được các vỉa than có chiều dầy 0,3m. Việc thay đổi tiêu chí tính trữ lượng than trong quá khứ vừa là một hành động cơ hội, vừa là để "bật đèn xanh" cho việc pha trộn đất đá vào than chạy theo thành tích. Việc này cần phải được ngăn chặn vì hiệu quả chung của nền kinh tế.

Về hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tuy khối lượng than nguyên khai và than tiêu thụ tăng, nhưng chất lượng không những không tăng, mà còn bị giảm. Trong tự nhiên, trong số các chỉ tiêu về chất lượng của than (độ tro, độ ẩm, cỡ hạt, lưu huỳnh, phẩm cấp, v.v.) chỉ có một chỉ tiêu hầu như không thay đổi là lưu huỳnh vô cơ. Các chỉ tiêu còn lại thay đổi rất lớn trong quá trình khai thác, chế biến, và có ảnh hưởng rất quyết định đến hiệu quả SXKD, đặc biệt là độ tro và cỡ hạt than tiêu thụ. Thực tế cho thấy, chất lượng than nguyên khai giảm, chất lượng than tiêu thụ cũng giảm. Nếu tính yếu tố "chất lượng", thì bức tranh về "sản lượng" của TKV sẽ khác hẳn.

Tàu cập cảng, lên than tại khu vực cảng 10/10 (Cẩm Phả, Quảng Ninh). Ảnh VNN
Lợi nhuận thời gian qua có được chủ yếu nhờ xuất khẩu than với giá cao và được nộp thuế tài nguyên thấp. Than xuất khẩu từ trước đến nay chưa được hạch toán đúng và đủ các chi phí riêng có liên quan đến xuất khẩu. So với than tiêu thụ trong nước, than xuất khẩu có giá thành cao hơn, có tỷ lệ thu hồi thấp hơn, phải qua các khâu tuyển, truyền tải, v.v. Nếu hạch toán đúng và đủ, giá thành bình quân của than tiêu thụ trong nước sẽ thấp hơn.

Vietmindo là một doanh nghiệp chỉ khai thác than 100% vốn nước ngoài của Indonesia, từ trước đến nay nộp 10% doanh thu (chưa kể thuế) cho VN, nhưng vẫn hoạt động có hiệu quả ngày càng cao, ngay trên cùng địa bàn với các doanh nghiệp của TKV. Trong 5 năm, mặc dù còn được kinh doanh đa ngành, tổng số TKV nộp (kể cả thuế) cho ngân sách 19.309 tỷ đồng, cũng chỉ tương đương 10% tổng doanh thu (202.340 tỷ đ.).

TKV thường biện luận cho việc đẩy mạnh xuất khẩu là "xuất khẩu những loại than trong nước không có nhu cầu". Nhưng trên thực tế, than xuất khẩu chủ yếu vừa qua và hiện nay là than dùng cho phát điện (loại than thị trường trong nước đang có nhu cầu và sẽ phải nhập khẩu trong tương lai). Việc xuất khẩu than dùng cho điện đã đặt các nhà máy nhiệt điện của VN phải cạnh tranh với các nhà máy điện của TQ và Thái Lan ở thế bất lợi, làm cho việc cung cấp than cho điện trong nước không ổn định.

Hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả của TKV thể hiện: từ năm 2005-2010, vốn đầu tư tăng 8 lần (từ 4.100 tỷ lên 33.100 tỷ), vốn chủ sở hữu tăng gần 4 lần (từ 5.546 tỷ đồng lên 19.583 tỷ đồng), nhưng lợi nhuận trước thuế gần như không tăng (năm 2005 là 3.130 tỷ đồng, và năm 2010 dự kiến là 3.200 tỷ đồng). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm khoảng 4 lần. Lương bình quân trong cùng kỳ chỉ tăng 1,56 lần (còn thấp hơn mức tăng lương cơ bản của nhà nước).

Về đầu tư phát triển

Mặc dù tỷ lệ than xuất khẩu cao, nhưng việc đầu tư chủ yếu vẫn bằng vốn vay, kể cả đầu tư cho than. Tổng mức đầu tư 2005/2010 dự kiến là 89.140 tỷ đồng (tr. đó, 2005/2009 đã thực hiện là 55.830 tỷ đồng), cao hơn lợi nhuận trước thuế 3,9 lần (tổng lợi nhuận trước thuế 2005/2010 dự kiến là 23.103 tỷ đ.), cao hơn tích lũy 5,1 lần.

Đầu tư chủ yếu là ra ngoài than, trong khi tích lũy chủ yếu từ than. Tỷ trọng đầu tư cho than thấp và ngày càng giảm: từ 65% năm 2005, xuống còn 34% năm 2010, bình quân giai đoạn 2005/2010 chiếm 40%. Đây là một nguy cơ, vốn vay chủ yếu là nhờ vào uy tín của "than", dựa vào than để vay, nhưng thực tế đầu tư cho than rất ít so với nhu cầu.

Hậu quả của việc phát triển không bền vững của TKV là trong suốt 15 năm qua, chưa có mỏ than mới nào được đầu tư đưa vào hoạt động để mở rộng năng lực khai thác của toàn ngành.

Lĩnh vực đầu tư ngoài than chủ yếu là nhiệt điện chạy than. Trong khi, các dự án nhiệt điện chạy than của TKV đang vận hành (Na Dương, Cao Ngạn) đều phải bao cấp giá than đầu vào (giá than cấp cho Cao Ngạn thấp hơn giá thực tế, giá than cấp cho điện Na Dương chưa tính hết chi phí đổ thải đất đá trên bờ vách), nhưng vẫn không có lãi. Dự án điện Cẩm Phả mới đưa vào vận hành nhưng chưa thể chạy 20% bùn than theo thiết kế.

Về quản lý kỹ thuật

Việc hiện đại hoá ngành than đã và đang được thực hiện thông qua những dự án khoa học công nghệ kém hiệu quả như tuyển bã sàng bằng huyền phù tự sinh, cơ giới hoá khấu than lò chợ bằng các loại dàn "KDT" hay "Vinaalta", đào lò bằng máy liên hợp, băng tải ống Mạo Khê v.v.

Trong khai thác hầm lò: Lò chuẩn bị sản xuất là những đường lò đào chủ yếu trong than, lò đào trong đá chỉ chiếm 5-10%, nhưng thực tế lò đào trong đá đã tăng lên tới 23% về khối lượng và chiếm 50% về giá trị. Hầu hết các mỏ hầm lò (trừ Tcty Đông Bắc và Cty than Nam Mẫu) đều có số lượng lò chuẩn bị sản xuất phải đào trong đá còn cao hơn lò XDCB phải đào trong đá. Điều này không thể chấp nhận được về kỹ thuật và kinh tế. Con số này cho thấy: hoặc là có sự gian lận trong hạch toán giá thành hoặc là việc quản lý kỹ thuật cơ bản kém.

Mặc dù lò CBSX có thời gian tồn tại dưới 1 năm, nhưng tỷ lệ lò phải chống bằng sắt đã tăng lên đáng kể. Trong tổng số hơn 257 km đường lò chuẩn bị sản xuất năm 2009 có tới 184 km được chống bằng sắt (hơn 71%). Đây là một lãng phí rất lớn do buông lỏng công tác quản lý kỹ thuật cơ bản về đào, chống lò (từ thiết kế, lập hộ chiếu chống lò đến tổ chức thi công v.v.).

Mặc dù tỷ lệ lò được chống bằng sắt cao, nhưng tình trạng đường lò vẫn rất kém, không đảm bảo an toàn, đòi hỏi phải sửa chữa lại (chống xén). Trong giá thành năm 2009 có gần 73 km đường lò chống xén, trong đó có tới hơn 54 km lò chống sắt. Số mét lò phải chống xén (sửa chữa lại) gần bằng 30% số mét lò đào mới, trong đó lại chủ yếu là những lò chống bằng sắt chứng tỏ hoặc là có sự gian lận, hoặc là kỹ thuật đào và chống lò đã được quản lý rất tuỳ tiện.

Việc quản lý kỹ thuật cơ bản trong khâu đào chống lò của TKV bị buông lỏng ngay trên giấy: Trong năm 2009, với tổng số mét lò đào trong than (cả CBSX và XDCB) là 230.337m, lẽ ra, TKV có thể thu hồi được ít nhất 2,91 triệu tấn than, nhưng theo số liệu chính thức, chỉ thu hồi được 2,52 tr.t, như vậy nền kinh tế đã bị mất tới hơn 380 ngàn tấn than (trong đó: mỏ Mông Dương ít nhất 74.000 tấn, Đông Bắc- 72.000 tấn, Khe Chàm- 58.000 tấn, Uông Bí- 50.000 tấn, Dương Huy- 36.000 tấn, Vàng Danh- 36.000 tấn v.v.). Đây là con số không nhỏ. Nếu tính giá thành b/q của than hầm lò là 600.000đ/tấn, giá trị tổn thất chỉ riêng trong khâu đào lò đã lên tới hơn 220 tỷ đồng/năm!

Trong khai thác lộ thiên, chi phí lớn nhất là vận chuyển đất đá (chiếm hơn 70%). Cung độ vận chuyển đất đá bình quân (2009) chỉ có 2,67km, lý do mà TKV giải trình giá thành than tăng cao so với trước đây vì phải "đi xa" là không đứng vững. Hệ số bóc đất tăng lên tới 8,17m3/tấn là con số đáng kể ảnh hưởng tới giá thành than lộ thiên. Hệ số bốc đất càng cao thì tình trạng kỹ thuật của mỏ lộ thiên phải càng tốt (với điều kiện đất đá bốc phải trong biên giới kết thúc mỏ). Thực tế các mỏ lộ thiên hiện nay có tình trạng kỹ thuật của khai trường rất đáng lo ngại. Điều không kém phần quan trọng là việc đổ thải đất đá hiện nay của các mỏ không cho phép quản lý được khối lượng đất bốc. Chỉ riêng mỏ lộ thiên Khánh Hoà, cơ quan điều tra đã phát hiện khối lượng đất đá bị khai gian đã chiếm tới 20%.

Ở các mỏ lộ thiên, năm 2010 khối lượng phải thuê ngoài lên tới hơn 67 triệu m3 đất đá bốc (chiếm tới 30%) và 11 triệu tấn than (chiếm tới 41%) là những kẽ hở rất lớn trong quản lý chi phí. Đặc biệt mỏ than Núi Béo, để chạy theo thành tích đạt sản lượng 5 tr.tấn/năm, khối lượng thuê ngoài lên tới 11 triệu m3 đất đá bốc (50% khối lượng) trong khi nguy cơ không có việc làm của hàng ngìn CBCNV của mỏ này đang cận kề. Xét về mặt kỹ thuật, nếu sản lượng của mỏ này được duy trì ở mức 2-2,5 triệu tấn/năm, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện việc đổ đất đá thải vào bãi thải trong để giảm chi phí hàng ngìn tỷ đồng, và điều quan trọng hơn là hạn chế được nguy cơ bục nước từ bãi thải trong vào mỏ hầm lò Núi Béo trong tương lai mà chúng ta đang triển khai xây dựng. Ngoài ra, việc đổ bãi thải trong sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường của vùng Hòn Gai, đáp ứng yêu cầu của địa phương.

Chất lượng than nguyên khai ngày càng giảm. Độ tro bình quân của than nguyên khai lên tới 36,18% là con số không bình thường. Thậm trí có những mỏ (như Mạo Khê, hay Cty than Uông Bí) độ tro than nguyên khai gần 42%- cao hơn cả độ tro tối đa của than "trong cân đối" (dưới 40%). Điều này cho thấy: hoặc là công tác làm sạch mặt tầng, công nghệ xử lý các tam giác vách và trụ (ở các mỏ lộ thiên) và công nghệ đào lò chuẩn bị và khấu than (ở các mỏ hầm lò) không đúng kỹ thuật đã làm cho hệ số "làm bẩn" tăng lên, hoặc là có sự gian lận pha trộn cả than xấu và đất đá vào than nguyên khai để tăng sản lượng và để được tính vào giá thành làm tăng chi phí sản xuất.

Chất lượng than sạch ngày càng xấu: tỷ lệ than có chất lượng cao (than "tiêu chuẩn VN", đặc biệt là than cục) ngày càng giảm và tỷ lệ than có chất lượng thấp (than "tiêu chuẩn ngành" và "tiêu chuẩn cơ sở") ngày càng tăng. Trong năm 2009, chỉ tính riêng các loại than có chất lượng thấp từ cám số 6 trở xuống đã lên tới gần 17,87 triệu tấn, chiếm 45% sản lượng than sạch của của TKV. Trong khi đó, tỷ lệ than cục (kể cả các loại cục 7b có độ tro tới 45%) cũng chỉ chiếm 5,7%.

Đây là một bất cập không thể cứ nhắm mắt bỏ qua vì không chỉ làm giảm hiệu quả kinh tế của chính TKV (giảm giá bán bình quân), mà còn làm tăng chi phí sử dụng than của nền kinh tế quốc dân (tăng chi phí vận tải khống một lượng đất đá khổng lồ bị pha lẫn trong than, tăng chi phí đầu tư của các hộ dùng than lớn như điện, xi măng).

Lập luận cho rằng tỷ lệ than cục thấp là do công nghệ (cơ giới hoá khấu than cao) là không có cơ sở vì tỷ lệ khấu than bằng cơ giới hoá thực tế chỉ chiếm có 2,34% (không đáng kể) đối với các mỏ hầm lò, còn đối với các mỏ lộ thiên thì công nghệ khai thác than vẫn như cách đây 50 năm. Phẩm cấp than sạch ngày càng xấu là do chạy theo thành tích sản lượng. Trong khi đó, TKV hiện đang rất tích cực đầu tư xây dựng mới các nhà máy sàng tuyển than tập chung, mà đã từ lâu chúng tôi cho rằng vừa không cần thiết, vừa quá đắt, vừa không có hiệu quả.

Còn nữa


Thứ Hai, 16 tháng 11, 2009

Bộ trưởng giải trình về PCI, bể than sông Hồng, ngư dân

,

 - Một ngày trước phiên chất vấn của Quốc hội (ngày 17, 18 và sáng 19/11), Bộ trưởng các bộ Công an, Công Thương và Ngoại giao đã có công văn trả lời chất vấn của các ĐBQH về vụ PCI, khai thác bể than sông Hồng và bảo vệ ngư dân.

Vụ PCI chậm: Vì phải vận dụng cả luật pháp quốc tế

ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết. Ảnh: TTXVN
ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết. Ảnh: VA

Phó Chủ nhiệm UB Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của QH Nguyễn Minh Thuyết cho hay, ông vừa nhận được công văn ký ngày 16/11/2009 của Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời chất vấn của ông liên quan đến tiến độ xử lý vụ PCI.

Về vấn đề này, ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết đã gửi câu hỏi chất vấn Thủ tướng là: Vì sao tiến độ xử lý vụ PCI chậm? Chính phủ có được các đối tác như Úc, Đức, Mỹ... thông báo về những vụ việc tương tự hay không? Thái độ của Chính phủ như thế nào? Thủ tướng có tán thành việc lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội để phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra hay không?

Trong công văn dài gần 4 trang, Bộ trưởng Lê Hồng Anh đã trình bày diễn tiến, kết quả bước đầu của công tác điều tra vụ PCI và thu thập tin tức về một số vụ việc khác. Về lý do diễn tiến vụ việc chậm, Bộ trưởng Công an nói, do phía Nhật chuyển hồ sơ cho Việt Nam chậm và vụ việc có yếu tố nước ngoài nên phải vận dụng cả luật pháp Việt Nam và quốc tế.

Ông Nguyễn Minh Thuyết bày tỏ sự tin tưởng vào quá trình điều tra, sự nghiêm minh của pháp luật và cũng để giữ bí mật trong khi vụ việc đang điều tra, xin không công bố cụ thể nội dung công văn trả lời của Bộ trưởng.

Về đề xuất lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội, ông Thuyết cho rằng giải trình của Bộ trưởng cho thấy công tác điều tra đang được tiến hành nghiêm túc, đúng pháp luật nên chưa cần đề xuất kiến nghị của mình lên Quốc hội.
 

Khai thác than: Không ảnh hưởng nhiều đến đất lúa

Trong phần trả lời gửi tới Trưởng đoàn ĐBQH Hưng Yên Vũ Quang Hải, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng khẳng định, việc khai thác bể than sông Hồng sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia lại không ảnh hưởng nhiều lắm đến diện tích đất trồng lúa. 

ĐBQH Vũ Quang Hải. Ảnh: LN
ĐBQH Vũ Quang Hải. Ảnh: VA

Theo các tài liệu địa chất của Bộ Tài nguyên - Môi trường và Tập đoàn Than - Khoáng sản (TKV), bể than sông Hồng được đánh giá có tiềm năng rất lớn về tài nguyên. Chất lượng than phù hợp cho sản xuất điện, xi măng.

Vùng chứa than phân bố trên diện tích khoảng 3.500 km2 với mật độ chứa than lớn, khoảng 30 - 100 vỉa. Dự báo trữ lượng 210 tỷ tấn, gấp 20 lần so với bể than Quảng Ninh.

Với trình độ hiện nay, có thể khai thác được khoảng trên 65 tỷ tấn trên diện tích 1.500 km2. Thái Bình chiếm gần 90%, Hưng Yên chiếm 8,5% tài nguyên than.

Bộ trưởng Công Thương cho hay, theo các số liệu thăm dò, đã có 104 lỗ khoan thăm dò than và dầu khí với tổng khối lượng 43,4 km khoan.

Từ năm 1998 - 2002, TKV đã hợp tác cùng tổ chức NEDO (Nhật Bản) tiến hành khoan 19 lỗ khoan thăm dò, tập trung vào khu vực Bình Minh, Khoái Châu (Hưng Yên) với diện tích 25km2.

Trữ lượng than ở đây vào  khoảng 456 triệu tấn.

Như vậy, để khai thác phần diện tích còn lại của bể than sông Hồng, kể cả thử nghiệm, cần phải thăm dò và đánh giá trữ lượng chi tiết... Ngoài ra, cần tiến hành hàng loạt đánh giá tác động môi trường, xã hội, tác động đến đất nông trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực...

Bộ Công Thương đang cùng các bộ ngành khác chỉ đạo ngành than xây dựng Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng để nghiên cứu và đánh giá về các nội dung trên.

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng cho hay, việc khai thác bể than sông Hồng "bước đầu sẽ có tác động nhất định đến môi trường, môi sinh, có khả năng gây sụt lón mặt đất, tác động ảnh hưởng đến nước mặt, nước ngầm. Ngoài ra còn tác động đến an toàn của con người và công trình trên mặt đất như di tích lịch sử, công trình văn hoá, nhà dân, hệ thống giao thông, đê điều".

Như vậy, bên cạnh những tác động tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội, nếu khai thác than tại khu vực này cũng sẽ khó tránh khỏi việc gây ra một số ảnh hưởng không thuận.

Bộ trưởng Công Thương khẳng định, để tiến hành khai thác, cần có những bước đi thận trọng theo nguyên tắc tối đa hoá tác động thuận lợi, giảm thiểu tác động tiêu cực.

Bộ Công Thương đã đề nghị Thủ tướng cho phép lập dự án Quy hoạch thăm dò khai thác, chế biến và sử dụng than đồng bằng sông Hồng cùng với việc lập Báo cáo đánh giá môi trường quy hoạch.

Sau đó, nếu thấy đã tập hợp tương đối đầy đủ các dữ liệu thì có thể xem xét kiến nghị cho tiến hành thử nghiệm công nghệ nhằm xác định khả năng công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng than, xác định các vấn đề liên quan đến sụt lún bề mặt đất, ảnh hưởng của nước mặt, nước ngầm, hiệu quả dự án và quan hệ tác động kinh tế - xã hội khác.

Ông Hoàng cũng giải đáp những quan ngại của ĐB Vũ Quang Hải về tác động của khai thác than đến sử dụng đất nông nghiệp và an ninh lương thực.

Theo các số liệu tính toán trong đề án phát triển bể than thì các dự án đầu tư để khai thác sẽ có diện tích chiếm đất thấp hơn so với các dự án tại vùng Quảng Ninh.

Giai đoạn thử nghiệm dự kiến sử dụng khoảng 600 ha đất (Hưng Yên 450 ha). Sau năm 2025, khi dự án triển khai chính thức thì tổng diện tích đất sẽ vào khoảng 3.900 ha. Lần lượt là, Hưng Yên khoảng 2,24% đất nông nghiệp (tương ứng 11.000 tấn/năm);  Thái Bình tối đa 3,5% (tương đương 35.600 tấn lúa/năm) và Nam Định 0,19%...

"Mức độ ảnh hưởng với đất nông nghiệp không lớn. Không ảnh hưởng nhiều đến an ninh lương thực quốc gia", Bộ trưởng cho hay.

Bộ trưởng cũng dẫn chứng nhiều số liệu để khẳng định việc khai thác bể than sông Hồng là cần thiết để bù đắp tình trạng thiếu hụt năng lượng thời gian tới.

Theo đó, năm 2015 sẽ thiếu khoảng 25 triệu tấn than, năm 2020 thiếu khoảng 70 triệu tấn.

ĐBQH Vũ Quang Hải cũng chất vấn: Chủ trương khai thác bể than sông Hồng có được Hội đồng nhân dân tỉnh, Quốc hội xem xét không, ai là người chịu trách nhiệm chính hay lại đặt cơ quan dân cử trước việc đã rồi?

Bộ trưởng Công Thương khẳng định, đề án phát triển bể than ĐBSH cũng tương tự như nhiều đề án, quy hoạch khác đã được phê duyệt mới chỉ ở giai đoạn nghiên cứu, chưa phải là dự án đầu tư.

Khi lập dự án đầu tư cụ thể, tuỳ theo quy mô, tính chất của dự án, chủ đầu tư và Bộ quản lý sẽ báo cáo Thủ tướng để trình Quốc hội.

Ngày mai (17/11), các vị bộ trưởng sẽ trả lời chất vấn trực tiếp tại nghị trường.

Bộ trưởng Công Thương sẽ là người lần thứ ba liên tiếp đăng đàn tại Quốc hội. Tính đến cuối tuần qua, ông đã nhận được 29 chất vấn, nhiều thứ hai sau Thủ tướng. 

"Yêu cầu các nước xử lý nghiêm minh"

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cũng đã có công văn trả lời chất vấn của ĐB Nguyễn Minh Thuyết về câu hỏi liên quan đến việc ngư dân Việt Nam bị đối xử thô bạo.

Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cho biết, với hành vi bắt giữ trái phép, ngược đãi ngư dân ta của các nước, Việt Nam luôn kiên quyết phản đối, yêu cầu thả vô điều kiện tàu, ngư dân ta và bồi thường thiệt hại.

Đồng thời, yêu cầu các nước xử lý nghiêm minh đối với những người đã có hành động thô bạo, cam kết không để xảy ra các hành động tương tự trong tương lai.

Ngay sau khi Chính phủ Indonesia ban hành bổ sung Luật Thủy sản, trong đó cho phép tàu tuần tra bắn tàu cá nước ngoài vi phạm vùng biển Indonesia, ngày 2/11, đại diện Bộ Ngoại giao VN đã gặp đại diện lâm thời Đại sứ quán Indonesia bày tỏ quan ngại trước việc Indonesia áp dụng biện pháp cứng rắn này đối với ngư dân nước ngoài. Nhấn mạnh rằng bất luận trong trường hợp nào việc lực lượng tuần tra bắn vào ngư dân là việc làm vô nhân đạo, trái với các quy định trong luật pháp quốc tế.

 

Lê Nhung

http://vietnamnet.vn/chinhtri/200911/Bo-truong-giai-trinh-ve-PCI-be-than-song-Hong-ngu-dan-879116/

Ngành than sau 15 năm phát triển: “được” 3, “mất” 7

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Khai thác bể than đồng bằng sông Hồng: Lo ngại lớn nhất là vấn đề môi trường

Thứ Sáu, 11/09/2009, 20:05 (GMT+7)

Chuyên đề:

Khai thác bể than đồng bằng sông Hồng: Lo ngại lớn nhất là vấn đề môi trường

TTCT - Tập đoàn Than - khoáng sản VN (TKV) đã có tờ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt "Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng". Theo kết quả thăm dò ban đầu của TKV, trên diện tích 3.500km2 thuộc các tỉnh thành Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng, dưới lòng đất của đồng bằng sông Hồng có chứa khoảng 210 tỉ tấn tài nguyên than năng lượng (gấp 20 lần bể than Quảng Ninh).

Riêng dải đất từ Khoái Châu (Hưng Yên) đến Tiền Hải (Thái Bình) có diện tích 2.200km2, chứa khoảng 100 tỉ tấn tài nguyên than. TKV dự kiến khu vực có thể đưa vào thăm dò khai thác khoảng 65 tỉ tấn than trên diện tích khoảng 1.500km2 tại phạm vi dải này.

Tập đoàn TKV triển khai khoan thăm dò trữ lượng than tại khu vực Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên)

Cũng theo định hướng của TKV, thời gian tới sẽ phát triển bể than sông Hồng một cách hiện đại, hài hòa và bền vững với công nghệ kỹ thuật tiên tiến nhất của thế giới; hình thành tại đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) một trung tâm năng lượng sạch lớn nhất VN trong thế kỷ 21!

TKV sẽ khai thác than tại đồng bằng sông Hồng như thế nào?

Trao đổi với Tuổi Trẻ Cuối Tuần, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn - giám đốc Công ty năng lượng Sông Hồng (Tập đoàn TKV) - cho biết TKV sẽ không áp dụng công nghệ khai thác than lộ thiên như ở Quảng Ninh hiện nay mặc dù đây là công nghệ có hiệu quả nhất với chủ đầu tư. Tại bể than ĐBSH, các vỉa than có thể khai thác chủ yếu nằm ở độ sâu -450m đến -1.700m. Vì vậy, hai công nghệ chính dự kiến được lựa chọn áp dụng cho việc phát triển bể than ĐBSH là khai thác hầm lò và khí hóa than.

Phó vụ trưởng Vụ Hoạt động xây lắp (Bộ Xây dựng) Hoàng Thọ Vinh:

Không được tác động đến đất trồng lúa

"Đề án phát triển bể than ĐBSH" còn đang trong giai đoạn sơ khai, chưa khẳng định chắc chắn trữ lượng là bao nhiêu vì con số 210 tỉ tấn cũng là số liệu ước tính thăm dò. Chúng tôi cho rằng đề án phát triển bể than ĐBSH là đề án có giá trị kinh tế rất cao, nhưng cũng là đề án có mức độ ảnh hưởng tới môi trường sinh thái và liên quan chặt chẽ tới an ninh lương thực, do bể than ĐBSH nằm trên địa bàn vùng vựa lúa lớn thứ hai của cả nước là Thái Bình, Hưng Yên. Chính vì vậy, công tác thẩm định cần phải được đặc biệt chú trọng.

Bên cạnh đó, vùng ĐBSH rất nhạy cảm, gắn với nhiều dự án về quy hoạch xanh các đô thị trọng điểm, đây là vùng đất phù sa màu mỡ, nơi dự trữ tiềm năng an toàn lương thực quốc gia nên đặt vấn đề khai thác than phải không ảnh hưởng đến đất trồng lúa, không làm biến đổi khí hậu, sinh thái vùng.

Trong điều kiện các thông tin về địa chất mỏ còn rất hạn chế, để tránh rủi ro, việc triển khai các dự án thử nghiệm là hết sức cần thiết nhằm mục tiêu lựa chọn được những công nghệ phù hợp và có hiệu quả nhất, tận thu tối đa nguồn tài nguyên có hạn của đất nước, bảo đảm mọi điều kiện để người dân trong vùng tài nguyên ổn định, phát triển.

Theo ông Sơn, việc khai thác than tại đây sẽ được tiến hành theo hai giai đoạn. Giai đoạn 1 sẽ triển khai thử nghiệm công nghệ tại khu vực có mật độ các công trình khảo sát địa chất lớn nhất, đồng thời tổ chức thăm dò các khu vực còn lại để đưa vào khai thác trên quy mô lớn.

Trong giai đoạn 1, công tác thử nghiệm các công nghệ được triển khai trên địa bàn Hưng Yên (ba mỏ) và một mỏ tại Thái Bình. Giai đoạn 2 sẽ tập trung phát triển các mỏ với các công nghệ đã được thử nghiệm thành công với quy mô, số lượng phù hợp điều kiện tự nhiên và nhu cầu than của nền kinh tế.

Ông Sơn cũng cho hay dự kiến từ nay đến 2015 sẽ tiến hành thử nghiệm bốn loại hình công nghệ gồm: khai thác hầm lò phần nông (mức -450/-600m), khai thác hầm lò phần dưới sâu (-600/-1.200m) và khí hóa than vỉa mỏng, vừa nằm nông (mức -300/-450m), vừa nằm sâu (-450/-900m).

Để phát triển bể than ĐBSH, TKV dự kiến tổng mức đầu tư trước mắt vào 11 dự án quan trọng khoảng 4,491 tỉ USD, trong đó các dự án thử nghiệm công nghệ chiếm 16,13%, các dự án địa chất chiếm 61,57%, số còn lại tập trung vào các dự án khai thác và xây dựng hạ tầng. Trong số 11 dự án trên, dự án địa chất thăm dò vùng Phủ Cừ - Tiền Hải có tổng mức đầu tư chiếm tới 61,57%, thời gian dự kiến kéo dài ít nhất 10 năm, bắt đầu từ 2010.

TKV cũng cho rằng nếu việc triển khai đề án phát triển bể than ĐBSH thành công thì giai đoạn 1 (đến trước 2018) sẽ đóng góp cho nền kinh tế 1.745 triệu thùng diesel/năm hoặc 2,3 tỉ kWh/năm. Ngoài ra, đề án sẽ góp phần cung cấp điện ổn định cho thủ đô Hà Nội, tỉnh Hưng Yên và các tỉnh liền kề chưa có nhà máy điện như Hà Nam, Nam Định, vùng Hà Tây và có thể cung cấp than cho cụm các dự án điện 1.800MW ở Thái Bình.

Tập quán canh tác của 180.000 hộ dân sẽ bị ảnh hưởng

"Kinh nghiệm của VN trong khai thác hầm lò tại vùng Quảng Ninh chỉ có thể áp dụng hạn chế cho vùng than ĐBSH"- giám đốc Nguyễn Thành Sơn nói. Ông cũng khẳng định nếu bể than ĐBSH được đưa vào khai thác sẽ chủ yếu áp dụng công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất.

Nếu công nghệ này được thử nghiệm thành công ở mỏ Tiên Dung (huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) thì TKV có thể đưa vào cân đối 30 tỉ tấn trữ lượng than (tăng 5-6 lần so với trữ lượng hiện có).

Theo đánh giá chủ quan của TKV, công nghệ khí hóa than ngầm là công nghệ năng lượng sạch tiềm năng, được nhiều quốc gia đánh giá cao hơn so với điện nguyên tử, là một "kho chứa cacbon khổng lồ" của thế giới. Than của ĐBSH sau khi được khai thác sẽ đáp ứng đủ nhu cầu về phát điện, sản xuất ximăng, luyện kim đen và màu, dùng làm chất đốt sinh hoạt... của VN.

Tuy nhiên, theo ông Sơn, lo ngại lớn nhất cho việc khai thác than tại bể than ĐBSH là sự ảnh hưởng đến hệ thống nước ngầm và sự lún sụt đất của vùng châu thổ sông Hồng. Các dự án phát triển bể than này rất nhạy cảm về mặt môi trường, liên quan đến quy hoạch tổng thể trên các địa bàn quan trọng như Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định.

Việc khai thác bể than ĐBSH chắc chắn sẽ có ảnh hưởng nhất định (cả tích cực lẫn tiêu cực) đến tập quán canh tác của 180.000 hộ dân trong vùng và quy hoạch của thủ đô Hà Nội trong giới hạn của vành đai 4 và 5. Trước mắt, trên địa bàn huyện Khoái Châu dự kiến sử dụng khoảng 150ha để triển khai các dự án, gồm phát triển các mỏ Bình Minh và Tây Sa, xây dựng các nhà máy điện và các công trình khác. Trên địa bàn tỉnh Thái Bình dự kiến sử dụng 150ha cho các dự án thử nghiệm.

Hiện tại TKV vẫn chưa có báo cáo đánh giá về tác động môi trường của bể than ĐBSH. Lý giải điều này một quan chức của TKV cho biết trên cơ sở số liệu thu được sau khi triển khai thăm dò vùng than Khoái Châu, TKV sẽ tổ chức soạn thảo báo cáo đánh giá tác động môi trường với nội dung đề cập đầy đủ các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường đất, nước ngầm, nước mặt, không khí và hệ động thực vật.

Cần đúng luật

(Trích văn bản của Bộ NN&PTNT gửi Bộ Công thương ngày 19-6-2009)

1. Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng cần được triển khai theo đúng các luật: khoáng sản, môi trường, đất đai, tài nguyên nước và các văn bản pháp lý liên quan.

2. Liên quan đến khu vực của đề án: Trước đây và hiện nay, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đang khảo sát, thăm dò và khai thác dầu khí và khí than (tập trung ở Thái Bình và đang triển khai ở các tỉnh xung quanh), vì vậy nếu được Chính phủ cho phép triển khai đề án, Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV) cần phối hợp, kết hợp chặt chẽ với PVN để thăm dò, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên của đất nước.

3. Các số liệu về trữ lượng than trong đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng chưa có căn cứ tin cậy. Trước khi đưa vào khai thác thử nghiệm như đề nghị của TKV, cần thiết phải tiến hành theo lộ trình: điều tra, khảo sát, thăm dò đánh giá trữ lượng; quy hoạch phát triển; kế hoạch khai thác thử nghiệm; kế hoạch cho các dự án khai thác chính thức.

4. Khi tiến hành khai thác thử nghiệm cần xác định vị trí hầm lò ở cách xa các khu dân cư để đảm bảo không ảnh hưởng đến đời sống, môi trường của người dân. Để tiến hành khai thác chính thức sau này (nếu được phép), cần phải chọn giải pháp kỹ thuật, công nghệ để đảm bảo không xảy ra sụt lún bề mặt làm ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản của người dân; an toàn của các công trình thủy lợi (đê điều, kênh mương...), giao thông; không ảnh hưởng đến nguồn nước mặt, nước ngầm và sản xuất nông nghiệp...

Bể than sông Hồng được phát hiện từ năm 1970

Bể than sông Hồng được phát hiện từ năm 1970, sau đó Tổng cục Địa chất cũng có tổ chức nhiều cuộc thăm dò tại ba tỉnh Hưng Yên, Nam Định và Thái Bình, dự báo có trữ lượng khoảng 210 tỉ tấn nhưng thực tế khai thác được bao nhiêu thì hiện nay TKV chưa tính toán được.

Sau khi đề án được Thủ tướng phê duyệt, TKV sẽ tiến hành khai thác thử nghiệm tại Hưng Yên và Thái Bình. Từ nay đến 2015 là giai đoạn thăm dò và thử nghiệm công nghệ, nếu kết quả thử nghiệm tốt thì sau 2015 sẽ phát triển ra nhiều mỏ.

Chủ tịch HĐQT Tập đoàn TKV Đoàn Văn Kiển cho biết TKV đã ký thỏa thuận với Tập đoàn Dầu khí VN (PVN) nhằm đẩy mạnh hợp tác. Theo đó, hai bên sẽ trao đổi và hợp tác xử lý thông tin về địa chất của các vỉa than đã thu được trong quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại ĐBSH. Hai bên cũng cam kết trước mắt sẽ cùng hợp tác đầu tư thăm dò và khai thác thử nghiệm một mỏ than trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

______________

Chi phí khảo sát: 6.000 tỉ đồng

Ông Nguyễn Văn Thuấn

Theo ông Nguyễn Văn Thuấn - cục trưởng Cục Địa chất và khoáng sản VN (Bộ Tài nguyên - môi trường): Các kết quả điều tra địa chất, tìm kiếm thăm dò sơ bộ, các lỗ khoan dầu khí và các kết quả đo địa chấn đã khẳng định tại đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có mỏ than quy mô lớn.

Vì vậy, việc điều tra, khảo sát là cần thiết. Tuy nhiên, đề án do Tập đoàn Than - khoáng sản VN (TKV) soạn còn nhiều điểm chưa rõ, chưa chuẩn về mặt chuyên môn cũng như pháp lý. TKV chỉ là một doanh nghiệp, việc điều tra khảo sát phải là của các cơ quan chức năng, của Nhà nước chứ không phải của TKV.

Sau khi xác định được số lượng, chất lượng than, cơ quan quản lý nhà nước sẽ kiến nghị các công nghệ phù hợp để khai thác. Khi đó có thể Nhà nước sẽ giao cho TKV khai thác nhưng cũng có thể đấu thầu, cho doanh nghiệp khác vào.

* Thưa ông, các chuyên gia ở Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật VN cho rằng tại ĐBSH không chỉ có mỏ than mà còn nhiều khoáng sản khác. Nếu vì muốn có tài nguyên mà khai thác không cẩn thận có thể gây sụt lún, biến toàn vùng thành hồ nước nhiễm mặn?

- Tất cả kết luận chỉ có thể đưa ra khi có khảo sát, đánh giá một cách khoa học từ thực tiễn. Nếu chỉ ngồi nghĩ, căn cứ vào những khả năng thì có thể nghĩ ra rất nhiều nguy cơ. Trong góp ý gửi Bộ Công thương, chúng tôi cho rằng điều kiện khai thác than ở ĐBSH là rất phức tạp. Than phân bố dưới sâu, nếu khai thác có thể phải khoan đến 2.000m. Khi than ở sâu, nó có khả năng ảnh hưởng đến nước ngầm.

Ngoài ra, do tầng đá khu vực này không bền vững, dễ sụt lún, lại nằm dưới khu vực đông dân cư nên các dự án khai thác phải đi từng bước thận trọng, theo đúng trình tự: điều tra, thăm dò, khai thác thử nghiệm và khai thác nhằm đảm bảo không rủi ro, có lợi ích kinh tế - xã hội, hạn chế tối đa các tác động đến môi trường sống.

Vấn đề quan trọng nhất là công nghệ. Hiện khai thác than ở độ sâu như ở ĐBSH thế giới cũng đã có công nghệ. Vấn đề là khảo sát, đánh giá thế nào và ta sẽ sử dụng công nghệ nào để khai thác.

* Và cả chuyện hiệu quả kinh tế sẽ ra sao, có đáng để đầu tư khai thác hay không?

- Đúng. Khai thác ở độ sâu cả ngàn mét thì chắc chắn sẽ tốn kém hơn khai thác than như hiện tại của TKV ở Quảng Ninh. Hiện Cục Địa chất và khoáng sản đang làm đề án về việc khảo sát, thăm dò cơ bản than ở ĐBSH. Phí khoan thăm dò rất lớn, đặc biệt với yêu cầu khoan sâu như ở bể than ĐBSH.

Qua tính toán sơ bộ, chi phí khảo sát này chia làm hai giai đoạn, từ 2010-2015 sẽ tốn khoảng 2.500 tỉ đồng, tổng quá trình khảo sát đến 2020 ước cũng phải mất tới 6.000 tỉ đồng. Đó mới là chi phí để xác định trữ lượng than cụ thể là bao nhiêu, phân bố thế nào... để trả lời câu hỏi có nên đầu tư cho khai thác không, còn chi phí cho công nghệ, khai thác lại khác.

Qua nhận định ban đầu, chúng tôi cho rằng than ở khu vực bể ĐBSH có thể có cả ở trong khu đồng bằng này và kéo cả ra vùng thềm lục địa, trữ lượng hàng trăm tỉ tấn. Đó mới là kết quả khảo sát từ những lỗ khoan cách nhau hàng trăm kilômet. Muốn đánh giá cụ thể phải có nhiều lỗ khoan dày hơn.

Một mỏ than đang được khai thác lộ thiên tại khu vực phường Hà Phong (thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh)  - Ảnh: Đỗ Hữu Lực

* Thưa ông, trong quá trình khai thác than nếu không kiểm soát tốt công nghệ để doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, không hoàn thổ, khả năng nguy hiểm cho toàn vùng ĐBSH là rất lớn?

- Hiện thế giới đã có nhiều công nghệ, có thể là khoan, rồi đốt cục bộ than bên dưới, khí hóa tài nguyên than hoặc khoan sâu xuống làm lò rồi lấy than... Công nghệ nào cũng yêu cầu hoàn thổ, nếu không sẽ rất nguy hiểm. Công nghệ hiện nay đã đảm bảo sau khi khai thác than, người ta có thể bơm trở lại bên dưới vật liệu khác thay thế, chống sụt lún.

Nếu cho khai thác thì công tác quản lý, kiểm soát phải rất chặt chẽ, không thể để doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, không hoàn thổ, gây nguy hiểm cho toàn vùng. Tuy nhiên, để khai thác được than ở ĐBSH sẽ còn là câu chuyện dài. Quá trình điều tra khảo sát sẽ mất thời gian. Muốn khai thác ít nhất chúng ta phải đợi 10 năm nữa.

* Theo ông, có nên để dành bể than sông Hồng lại cho con cháu mai sau khai thác không?

- Bây giờ chúng tôi chưa nói đến chuyện khai thác. Hiện chúng tôi mới đề nghị điều tra khảo sát cơ bản nắm rõ trữ lượng để có chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Còn chuyện khai thác có thể là 10-20 năm nữa hoặc có thể cả trăm năm sau. Nếu chúng ta thật sự có trữ lượng than lớn ở ĐBSH thì chúng ta sẽ là nước có trữ lượng than đứng thứ hai thế giới, sau Mỹ. Hiện theo tôi được biết, Mỹ cũng chưa đẩy mạnh khai thác để bán tài nguyên than của mình mà để dành cho mai sau.

Đề án sơ sài, chưa đạt yêu cầu

Ngày 25-5-2009, Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật VN và Tổng hội Địa chất VN đã thành lập ban phản biện "Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng" gồm 11 thành viên do GS.TS Trần Văn Trị làm trưởng ban.

Ban phản biện đã có ý kiến chung trong một văn bản dài năm trang khổ A4 gửi cho hội đồng thẩm định của Bộ Công thương. Tuổi Trẻ Cuối Tuần trích đăng phần kết luận và kiến nghị như sau:

1. Đề án phát triển bể than ĐBSH được Tập đoàn TKV xây dựng dựa theo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 76/TB-VPCP, nhưng theo mục III điểm 5 thì Thủ tướng Chính phủ "giao Bộ Tài nguyên - môi trường chỉ đạo Cục Địa chất và khoáng sản VN lập đề án điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên bể than ĐBSH và vùng phụ cận". Cho nên phần này không thuộc chức năng, nhiệm vụ của đề án này.

2. Đề án này không có các văn bản xét duyệt của Tập đoàn TKV mà đã đưa trình duyệt cấp trên là trái với các quy định hiện hành của Nhà nước.

3. Than nằm dưới vùng đồng bằng trù phú, dân cư đông đúc, có truyền thống văn hóa lâu đời, vì vậy phát triển bể than ĐBSH phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.

4. Bể than ĐBSH có tài nguyên dự báo khoảng 210 tỉ tấn than nâu chất lượng cao.

Điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình rất phức tạp, gây khó khăn trở ngại lớn cho công tác khai thác.

5. Khi khai thác phải đặc biệt chú ý vấn đề sụt lún, sụt lún tức thời, sụt lún lâu dài, sụt lún tại chỗ và sụt lún lan tỏa có thể biến đồng bằng phì nhiêu này thành hồ chứa nước nhiễm mặn.

Khi tháo khô mỏ phải đặc biệt chú ý sự nhiễm mặn, sự xâm lấn của nước biển, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự sống của con người, động thực vật vùng ĐBSH.

6. Khi khai thác than ở ĐBSH có thể làm thiệt hại đến tài nguyên khoáng sản khác (tài nguyên nước, nước khoáng, dầu khí, địa nhiệt...).

7. Cần thiết phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược có sự tham gia của các bộ, ngành hữu quan và được trình duyệt ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

8. Các đề án/dự án đã nêu ở trang 28 quyển A chỉ có một dự án thử nghiệm công nghệ khí hóa than và một dự án thử nghiệm công nghệ hầm lò là cần thiết. Nhưng các dự án này phải được lập thành dự án đầu tư và trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt và cấp giấy phép.

Sau khi dự án thử nghiệm công nghệ khí hóa than và thử nghiệm công nghệ khai thác hầm lò thành công, có hiệu quả kinh tế, trình Chính phủ xem xét quyết định các bước đi tiếp theo.

9. Qua nội dung nêu "đề án phát triển bể than ĐBSH" còn nhiều chỗ sơ sài, trùng lặp, thiếu cơ sở, chưa đạt yêu cầu của đề án theo các quy định hiện hành.

HỮU LỰC - C.V.KÌNH - XUÂN LONG thực hiện

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=336450&ChannelID=123

2015: Thăm dò xong một phần bể than sông Hồng

Cập nhật lúc 20:38, Thứ Tư, 11/11/2009 (GMT+7)
,

 - Theo định hướng Quy hoạch ngành than do Thủ tướng vừa phê duyệt, đến năm 2015 phải thăm dò xong một phần tài nguyên của bể than đồng bằng sông Hồng với diện tích 932 km2.

Mô tả ảnh.
Đẩy mạnh thăm dò than ở bể than sông Hồng. Ảnh: VNN
Theo định hướng quy hoạch, cuối năm 2015, hoàn thành thăm dò phần tài nguyên dưới mức -300m của bể than Đông Bắc; thăm dò xong một phần tài nguyên của bể than đồng bằng sông Hồng với diện tích 932 km2.

Cuối năm 2025, thăm dò xong tài nguyên khối Đông Quan và Vũ Tiên, khu Đông Hưng và Tiền Hải của bể than đồng bằng sông Hồng.

Thủ tướng yêu cầu quy hoạch phát triển ngành than phải trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên than của đất nước và phục vụ nhu cầu trong nước là chính.

Giảm dần xuất khẩu

Quy hoạch phải đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, phù hợp với sự phát triển chung của các ngành kinh tế khác. Chú trọng đầu tư cho công tác an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Có thể đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài để bổ sung nguồn than lâu dài cho nhu cầu trong nước.

Thủ tướng cũng lưu ý, đến năm 2015, ngành than cơ bản đạt các chỉ tiêu chính về môi trường tại các khu vực nhạy cảm (đô thị, khu dân cư, điểm du lịch...) và đến năm 2020, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn môi trường trên toàn bộ các vùng mỏ.


Dự báo nhu cầu than trong nước (gồm cả than bùn) đến giai đoạn 2025 là khoảng 382 triệu tấn, trong đó than cho điện đã chiếm khoảng 337 tấn.
Theo dự báo, từ năm 2013, Việt Nam phải nhập khẩu than mới đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Năm nay, nhu cầu than trong nước chưa đầy 20 triệu tấn, nhưng vào năm 2015, nhu cầu vọt lên 90 triệu tấn, bởi hàng loạt nhà máy nhiệt điện chạy than ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, nhà máy đạm đều đi vào sản xuất.

Năm nay, ngành than có thể đạt sản lượng 40 triệu tấn than thương phẩm. Trong số này, nhu cầu tiêu dùng trong nước chỉ vào khoảng một nửa. Nửa còn lại sẽ xuất khẩu. Trong khi đó, than là nguồn tài nguyên không thể tái tạo, phục hồi. 

Trước thực tế trên, Thủ tướng nêu rõ chủ trương với ngành than là phải đáp ứng tối đa nhu cầu than phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm việc xuất nhập khẩu hợp lý theo hướng giảm dần xuất khẩu và chỉ xuất các chủng loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng.

Chấm dứt sàng tuyển than nhỏ lẻ, thủ công

Thủ tướng cũng yêu cầu Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) căn cứ vào nhu cầu nội địa, xây dựng kế hoạch khai thác than cho từng năm, từng giai đoạn và có phương án nhập khẩu than.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, ngành than phải sớm hình thành thị trường cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh. Đi kèm với yêu cầu này là phải tăng cường khâu chế biến than, tức là tập trung theo hướng chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm, thay vì xuất than thô hoặc những sản phẩm than chế biến đơn giản.

Thủ tướng cũng yêu cầu đẩy mạnh đầu tư sàng tuyển theo hướng tập trung, đến năm 2010 chấm dứt việc sàng tuyển than nhỏ lẻ, thủ công tại các kho bến xuất than.

Căn cứ vào định hướng này, Bộ Công Thương phải phối hợp xây dựng Quy hoạch nói trên, hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, trình Thủ tướng vào quý III/2010.

Dự kiến, bể than sông Hồng có trữ lượng khoảng 210 tỷ tấn, gấp 20 lần trữ lượng than Quảng Ninh, trong đó 90% nằm ở tỉnh Thái Bình.

Từ cuối tháng 6/2009, đề án "phát triển bể than đồng bằng sông Hồng" đã được TKV xây dựng. Bộ Công Thương đã gửi đề án đến nhiều bộ, ngành để lấy ý kiến góp ý.

Giới khoa học đang quan ngại về tính khả thi của đề án, đặc biệt lo ngại vấn đề môi trường nước, môi trường sống, an ninh lương thực cũng như hiệu quả kinh tế.

  • L. Nhung

http://vietnamnet.vn/chinhtri/200911/2015-Tham-do-xong-mot-phan-be-than-song-Hong-878295/

Sẽ chất vấn Thủ tướng vụ PCI, bể than sông Hồng

Cập nhật lúc 06:38, Thứ Năm, 12/11/2009 (GMT+7)
,

 - Chuẩn bị cho phiên chất vấn diễn ra đầu tuần tới, một số ĐBQH nói sẽ chất vấn Thủ tướng tiến độ xử lý vụ PCI và đề án khai thác bể than sông Hồng.

Phó Chủ nhiệm UB Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên, Nhi đồng QH Nguyễn Minh Thuyết:

Tôi sẽ hỏi Thủ tướng vì sao tiến độ xử vụ PCI chậm

Tôi đã gửi câu hỏi chất vấn đến Thủ tướng là vì sao tiến độ xử lý vụ PCI chậm như vậy. Chính phủ có được các đối tác như Úc, Đức, Mỹ... thông báo về những vụ việc tương tự hay không?

Thái độ của Chính phủ như thế nào? Thủ tướng có tán thành việc lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội để phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra hay không?

Mô tả ảnh.

ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết: Thủ tướng có tán thành việc lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội để phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra hay không? Ảnh: Lê Nhung

Tôi hỏi Thủ tướng như vậy vì tại kỳ họp Quốc hội cuối năm ngoái, tôi đã chất vấn ông về vụ PCI. Vừa rồi, các vị Bộ trưởng Công an, Tổng Thanh tra Chính phủ và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã nêu một số lý do khiến xử lý vụ PCI bị chậm (phía Nhật chuyển tài  liệu muộn; quá trình dịch tài liệu kéo dài... - PV).

Tôi nghĩ mọi người đều hiểu rằng điều tra nghi án về tham nhũng rất phức tạp, cần làm thận trọng để tránh oan sai. Nhưng tiến độ xử lý như vậy là quá chậm chạp: Sau một năm mới hoàn thành được việc đầu tiên là dịch tài liệu.

Chính vì lý do này mà tôi nghĩ đến giải pháp kiến nghị Quốc hội lập Ủy ban đặc biệt để cùng phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra, xử lý. Nếu thành lập, chắc Ủy ban Tư pháp sẽ là nòng cốt.

Vì là lần đầu tiên thực hiện quy định về lập ủy ban đặc biệt nên nếu được một Phó Chủ tịch Quốc hội phụ trách thì rất tốt. Nhưng tôi cũng mới có ý tưởng như vậy thôi, chưa đề xuất kiến nghị lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vì còn chờ ý kiến của Thủ tướng.

Câu hỏi thứ hai tôi gửi Thủ tướng là: Vừa qua, rất nhiều luật đã có hiệu lực nhưng nhiều quy định trong luật không thi hành được vì thiếu văn bản hướng dẫn. Việc nợ văn bản hướng dẫn luật nhìn chung khá phổ biến. Là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng có trách nhiệm như thế nào?

Ngoài các câu hỏi gửi Thủ tướng, tôi còn gửi câu hỏi chất vấn Bộ trưởng Ngoại giao xung quanh giải pháp bảo vệ ngư dân đánh bắt cá trên biển, chất vấn Bộ trưởng Y tế về kết quả giải quyết tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên và kế hoạch, biện pháp trong thời gian tới để giải quyết vấn đề này.

Tôi cũng gửi chất vấn tới Bộ trưởng Tài chính về tình hình làm ăn thua lỗ nặng, kéo dài của hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific và trách nhiệm của đại diện sở hữu vốn nhà nước trong hãng bay liên doanh này và chất vấn Bộ trưởng Nội vụ về việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng.

Trưởng đoàn ĐBQH Hưng Yên Vũ Quang Hải:

Tôi chất vấn về khai thác bể than sông Hồng

Trong đợt tiếp xúc cử tri chuẩn bị cho kỳ họp thứ 6, đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên đã nhận được một số ý kiến của cử tri băn khoăn về việc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) trình Thủ tướng cho phép khai thác thí điểm mỏ than nâu sông Hồng tại huyện Khoái Châu.

Mô tả ảnh.

ĐBQH Vũ Quang Hải: Chọn an ninh lương thực hay an ninh năng lượng? Ảnh: Lê Nhung

Tôi đã gửi những băn khoăn của cử tri Hưng Yên lên Bộ trưởng Công Thương. Nếu chưa nhận được câu trả lời của Bộ Công Thương, tôi dự định sẽ chất vấn lên Thủ tướng.

Việc khai thác than nâu của TKV theo công nghệ hầm lò phần nông - sâu và khí hóa ngầm dưới lòng đất là những công nghệ mà một số nước đã làm nhưng thời gian kiểm nghiệm công nghệ chưa dài. Nếu Việt Nam áp dụng sớm thì e là chưa có kinh nghiệm.

Lo ngại thứ hai là những tác động sụt lún, nước chảy vào mỏ với vận tốc 20 ngàn mét khối mỗi giờ, nếu khai thác ở độ sâu dưới 300 mét, xử lý ra sao khi các vấn đề này sau 20 - 30 năm mới bộc lộ?

Mặt khác, tại sao lại lựa chọn TKV làm thí điểm trong khi Bộ TN&MT vẫn còn chưa có đầy đủ các căn cứ khoa học khẳng định về trữ lượng, công nghệ, tác động môi trường, nước ngầm cùng nhiều vấn đề xã hội khác?

Vấn đề hiện nay là chọn an ninh lương thực hay an ninh năng lượng, trong khi Việt Nam đang có thế mạnh về xuất khẩu lương thực mà vựa lúa đồng bằng sông Hồng đóng góp không nhỏ. Hay các nhà quản lý đứng nhìn hàng triệu nông dân của vùng dự án phải sống trong lo lắng mất đất, mất việc làm, xâm nhập nước mặn, sụt lún...?

Người dân ở Hưng Yên cũng chỉ biết tìm thông tin trên mạng và báo chí. Bà con ở xã sở tại được cung cấp thông tin nhưng chủ yếu là thông tin một chiều.

Một sự việc ảnh hưởng tới hàng triệu hộ dân có được đặt trong chương trình nghị sự của hội đồng nhân dân tỉnh hay Quốc hội để xem xét, quyết định không? Ai là người chịu trách nhiệm, hay lại đặt các cơ quan dân cử vào những việc đã rồi?

Phiên chất vấn sẽ bắt đầu vào ngày 17/11. Dự kiến, bộ trưởng các bộ Công Thương, Thông tin - Truyền thông, Nội vụ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ đăng đàn. Thủ tướng sẽ là dành trọn buổi sáng cuối cùng của phiên chất vấn (19/11) để trả lời. Tính đến nay, 246 câu hỏi đã được gửi đến các thành viên Chính phủ.

  • Lê Nhung

http://vietnamnet.vn/chinhtri/200911/Se-chat-van-Thu-tuong-vu-PCI-be-than-song-Hong-878333/