Thứ Hai, 16 tháng 11, 2009

Bộ trưởng giải trình về PCI, bể than sông Hồng, ngư dân

,

 - Một ngày trước phiên chất vấn của Quốc hội (ngày 17, 18 và sáng 19/11), Bộ trưởng các bộ Công an, Công Thương và Ngoại giao đã có công văn trả lời chất vấn của các ĐBQH về vụ PCI, khai thác bể than sông Hồng và bảo vệ ngư dân.

Vụ PCI chậm: Vì phải vận dụng cả luật pháp quốc tế

ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết. Ảnh: TTXVN
ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết. Ảnh: VA

Phó Chủ nhiệm UB Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của QH Nguyễn Minh Thuyết cho hay, ông vừa nhận được công văn ký ngày 16/11/2009 của Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời chất vấn của ông liên quan đến tiến độ xử lý vụ PCI.

Về vấn đề này, ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết đã gửi câu hỏi chất vấn Thủ tướng là: Vì sao tiến độ xử lý vụ PCI chậm? Chính phủ có được các đối tác như Úc, Đức, Mỹ... thông báo về những vụ việc tương tự hay không? Thái độ của Chính phủ như thế nào? Thủ tướng có tán thành việc lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội để phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra hay không?

Trong công văn dài gần 4 trang, Bộ trưởng Lê Hồng Anh đã trình bày diễn tiến, kết quả bước đầu của công tác điều tra vụ PCI và thu thập tin tức về một số vụ việc khác. Về lý do diễn tiến vụ việc chậm, Bộ trưởng Công an nói, do phía Nhật chuyển hồ sơ cho Việt Nam chậm và vụ việc có yếu tố nước ngoài nên phải vận dụng cả luật pháp Việt Nam và quốc tế.

Ông Nguyễn Minh Thuyết bày tỏ sự tin tưởng vào quá trình điều tra, sự nghiêm minh của pháp luật và cũng để giữ bí mật trong khi vụ việc đang điều tra, xin không công bố cụ thể nội dung công văn trả lời của Bộ trưởng.

Về đề xuất lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội, ông Thuyết cho rằng giải trình của Bộ trưởng cho thấy công tác điều tra đang được tiến hành nghiêm túc, đúng pháp luật nên chưa cần đề xuất kiến nghị của mình lên Quốc hội.
 

Khai thác than: Không ảnh hưởng nhiều đến đất lúa

Trong phần trả lời gửi tới Trưởng đoàn ĐBQH Hưng Yên Vũ Quang Hải, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng khẳng định, việc khai thác bể than sông Hồng sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia lại không ảnh hưởng nhiều lắm đến diện tích đất trồng lúa. 

ĐBQH Vũ Quang Hải. Ảnh: LN
ĐBQH Vũ Quang Hải. Ảnh: VA

Theo các tài liệu địa chất của Bộ Tài nguyên - Môi trường và Tập đoàn Than - Khoáng sản (TKV), bể than sông Hồng được đánh giá có tiềm năng rất lớn về tài nguyên. Chất lượng than phù hợp cho sản xuất điện, xi măng.

Vùng chứa than phân bố trên diện tích khoảng 3.500 km2 với mật độ chứa than lớn, khoảng 30 - 100 vỉa. Dự báo trữ lượng 210 tỷ tấn, gấp 20 lần so với bể than Quảng Ninh.

Với trình độ hiện nay, có thể khai thác được khoảng trên 65 tỷ tấn trên diện tích 1.500 km2. Thái Bình chiếm gần 90%, Hưng Yên chiếm 8,5% tài nguyên than.

Bộ trưởng Công Thương cho hay, theo các số liệu thăm dò, đã có 104 lỗ khoan thăm dò than và dầu khí với tổng khối lượng 43,4 km khoan.

Từ năm 1998 - 2002, TKV đã hợp tác cùng tổ chức NEDO (Nhật Bản) tiến hành khoan 19 lỗ khoan thăm dò, tập trung vào khu vực Bình Minh, Khoái Châu (Hưng Yên) với diện tích 25km2.

Trữ lượng than ở đây vào  khoảng 456 triệu tấn.

Như vậy, để khai thác phần diện tích còn lại của bể than sông Hồng, kể cả thử nghiệm, cần phải thăm dò và đánh giá trữ lượng chi tiết... Ngoài ra, cần tiến hành hàng loạt đánh giá tác động môi trường, xã hội, tác động đến đất nông trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực...

Bộ Công Thương đang cùng các bộ ngành khác chỉ đạo ngành than xây dựng Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng để nghiên cứu và đánh giá về các nội dung trên.

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng cho hay, việc khai thác bể than sông Hồng "bước đầu sẽ có tác động nhất định đến môi trường, môi sinh, có khả năng gây sụt lón mặt đất, tác động ảnh hưởng đến nước mặt, nước ngầm. Ngoài ra còn tác động đến an toàn của con người và công trình trên mặt đất như di tích lịch sử, công trình văn hoá, nhà dân, hệ thống giao thông, đê điều".

Như vậy, bên cạnh những tác động tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội, nếu khai thác than tại khu vực này cũng sẽ khó tránh khỏi việc gây ra một số ảnh hưởng không thuận.

Bộ trưởng Công Thương khẳng định, để tiến hành khai thác, cần có những bước đi thận trọng theo nguyên tắc tối đa hoá tác động thuận lợi, giảm thiểu tác động tiêu cực.

Bộ Công Thương đã đề nghị Thủ tướng cho phép lập dự án Quy hoạch thăm dò khai thác, chế biến và sử dụng than đồng bằng sông Hồng cùng với việc lập Báo cáo đánh giá môi trường quy hoạch.

Sau đó, nếu thấy đã tập hợp tương đối đầy đủ các dữ liệu thì có thể xem xét kiến nghị cho tiến hành thử nghiệm công nghệ nhằm xác định khả năng công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng than, xác định các vấn đề liên quan đến sụt lún bề mặt đất, ảnh hưởng của nước mặt, nước ngầm, hiệu quả dự án và quan hệ tác động kinh tế - xã hội khác.

Ông Hoàng cũng giải đáp những quan ngại của ĐB Vũ Quang Hải về tác động của khai thác than đến sử dụng đất nông nghiệp và an ninh lương thực.

Theo các số liệu tính toán trong đề án phát triển bể than thì các dự án đầu tư để khai thác sẽ có diện tích chiếm đất thấp hơn so với các dự án tại vùng Quảng Ninh.

Giai đoạn thử nghiệm dự kiến sử dụng khoảng 600 ha đất (Hưng Yên 450 ha). Sau năm 2025, khi dự án triển khai chính thức thì tổng diện tích đất sẽ vào khoảng 3.900 ha. Lần lượt là, Hưng Yên khoảng 2,24% đất nông nghiệp (tương ứng 11.000 tấn/năm);  Thái Bình tối đa 3,5% (tương đương 35.600 tấn lúa/năm) và Nam Định 0,19%...

"Mức độ ảnh hưởng với đất nông nghiệp không lớn. Không ảnh hưởng nhiều đến an ninh lương thực quốc gia", Bộ trưởng cho hay.

Bộ trưởng cũng dẫn chứng nhiều số liệu để khẳng định việc khai thác bể than sông Hồng là cần thiết để bù đắp tình trạng thiếu hụt năng lượng thời gian tới.

Theo đó, năm 2015 sẽ thiếu khoảng 25 triệu tấn than, năm 2020 thiếu khoảng 70 triệu tấn.

ĐBQH Vũ Quang Hải cũng chất vấn: Chủ trương khai thác bể than sông Hồng có được Hội đồng nhân dân tỉnh, Quốc hội xem xét không, ai là người chịu trách nhiệm chính hay lại đặt cơ quan dân cử trước việc đã rồi?

Bộ trưởng Công Thương khẳng định, đề án phát triển bể than ĐBSH cũng tương tự như nhiều đề án, quy hoạch khác đã được phê duyệt mới chỉ ở giai đoạn nghiên cứu, chưa phải là dự án đầu tư.

Khi lập dự án đầu tư cụ thể, tuỳ theo quy mô, tính chất của dự án, chủ đầu tư và Bộ quản lý sẽ báo cáo Thủ tướng để trình Quốc hội.

Ngày mai (17/11), các vị bộ trưởng sẽ trả lời chất vấn trực tiếp tại nghị trường.

Bộ trưởng Công Thương sẽ là người lần thứ ba liên tiếp đăng đàn tại Quốc hội. Tính đến cuối tuần qua, ông đã nhận được 29 chất vấn, nhiều thứ hai sau Thủ tướng. 

"Yêu cầu các nước xử lý nghiêm minh"

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cũng đã có công văn trả lời chất vấn của ĐB Nguyễn Minh Thuyết về câu hỏi liên quan đến việc ngư dân Việt Nam bị đối xử thô bạo.

Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cho biết, với hành vi bắt giữ trái phép, ngược đãi ngư dân ta của các nước, Việt Nam luôn kiên quyết phản đối, yêu cầu thả vô điều kiện tàu, ngư dân ta và bồi thường thiệt hại.

Đồng thời, yêu cầu các nước xử lý nghiêm minh đối với những người đã có hành động thô bạo, cam kết không để xảy ra các hành động tương tự trong tương lai.

Ngay sau khi Chính phủ Indonesia ban hành bổ sung Luật Thủy sản, trong đó cho phép tàu tuần tra bắn tàu cá nước ngoài vi phạm vùng biển Indonesia, ngày 2/11, đại diện Bộ Ngoại giao VN đã gặp đại diện lâm thời Đại sứ quán Indonesia bày tỏ quan ngại trước việc Indonesia áp dụng biện pháp cứng rắn này đối với ngư dân nước ngoài. Nhấn mạnh rằng bất luận trong trường hợp nào việc lực lượng tuần tra bắn vào ngư dân là việc làm vô nhân đạo, trái với các quy định trong luật pháp quốc tế.

 

Lê Nhung

http://vietnamnet.vn/chinhtri/200911/Bo-truong-giai-trinh-ve-PCI-be-than-song-Hong-ngu-dan-879116/

Ngành than sau 15 năm phát triển: “được” 3, “mất” 7

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Khai thác bể than đồng bằng sông Hồng: Lo ngại lớn nhất là vấn đề môi trường

Thứ Sáu, 11/09/2009, 20:05 (GMT+7)

Chuyên đề:

Khai thác bể than đồng bằng sông Hồng: Lo ngại lớn nhất là vấn đề môi trường

TTCT - Tập đoàn Than - khoáng sản VN (TKV) đã có tờ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt "Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng". Theo kết quả thăm dò ban đầu của TKV, trên diện tích 3.500km2 thuộc các tỉnh thành Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng, dưới lòng đất của đồng bằng sông Hồng có chứa khoảng 210 tỉ tấn tài nguyên than năng lượng (gấp 20 lần bể than Quảng Ninh).

Riêng dải đất từ Khoái Châu (Hưng Yên) đến Tiền Hải (Thái Bình) có diện tích 2.200km2, chứa khoảng 100 tỉ tấn tài nguyên than. TKV dự kiến khu vực có thể đưa vào thăm dò khai thác khoảng 65 tỉ tấn than trên diện tích khoảng 1.500km2 tại phạm vi dải này.

Tập đoàn TKV triển khai khoan thăm dò trữ lượng than tại khu vực Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên)

Cũng theo định hướng của TKV, thời gian tới sẽ phát triển bể than sông Hồng một cách hiện đại, hài hòa và bền vững với công nghệ kỹ thuật tiên tiến nhất của thế giới; hình thành tại đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) một trung tâm năng lượng sạch lớn nhất VN trong thế kỷ 21!

TKV sẽ khai thác than tại đồng bằng sông Hồng như thế nào?

Trao đổi với Tuổi Trẻ Cuối Tuần, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn - giám đốc Công ty năng lượng Sông Hồng (Tập đoàn TKV) - cho biết TKV sẽ không áp dụng công nghệ khai thác than lộ thiên như ở Quảng Ninh hiện nay mặc dù đây là công nghệ có hiệu quả nhất với chủ đầu tư. Tại bể than ĐBSH, các vỉa than có thể khai thác chủ yếu nằm ở độ sâu -450m đến -1.700m. Vì vậy, hai công nghệ chính dự kiến được lựa chọn áp dụng cho việc phát triển bể than ĐBSH là khai thác hầm lò và khí hóa than.

Phó vụ trưởng Vụ Hoạt động xây lắp (Bộ Xây dựng) Hoàng Thọ Vinh:

Không được tác động đến đất trồng lúa

"Đề án phát triển bể than ĐBSH" còn đang trong giai đoạn sơ khai, chưa khẳng định chắc chắn trữ lượng là bao nhiêu vì con số 210 tỉ tấn cũng là số liệu ước tính thăm dò. Chúng tôi cho rằng đề án phát triển bể than ĐBSH là đề án có giá trị kinh tế rất cao, nhưng cũng là đề án có mức độ ảnh hưởng tới môi trường sinh thái và liên quan chặt chẽ tới an ninh lương thực, do bể than ĐBSH nằm trên địa bàn vùng vựa lúa lớn thứ hai của cả nước là Thái Bình, Hưng Yên. Chính vì vậy, công tác thẩm định cần phải được đặc biệt chú trọng.

Bên cạnh đó, vùng ĐBSH rất nhạy cảm, gắn với nhiều dự án về quy hoạch xanh các đô thị trọng điểm, đây là vùng đất phù sa màu mỡ, nơi dự trữ tiềm năng an toàn lương thực quốc gia nên đặt vấn đề khai thác than phải không ảnh hưởng đến đất trồng lúa, không làm biến đổi khí hậu, sinh thái vùng.

Trong điều kiện các thông tin về địa chất mỏ còn rất hạn chế, để tránh rủi ro, việc triển khai các dự án thử nghiệm là hết sức cần thiết nhằm mục tiêu lựa chọn được những công nghệ phù hợp và có hiệu quả nhất, tận thu tối đa nguồn tài nguyên có hạn của đất nước, bảo đảm mọi điều kiện để người dân trong vùng tài nguyên ổn định, phát triển.

Theo ông Sơn, việc khai thác than tại đây sẽ được tiến hành theo hai giai đoạn. Giai đoạn 1 sẽ triển khai thử nghiệm công nghệ tại khu vực có mật độ các công trình khảo sát địa chất lớn nhất, đồng thời tổ chức thăm dò các khu vực còn lại để đưa vào khai thác trên quy mô lớn.

Trong giai đoạn 1, công tác thử nghiệm các công nghệ được triển khai trên địa bàn Hưng Yên (ba mỏ) và một mỏ tại Thái Bình. Giai đoạn 2 sẽ tập trung phát triển các mỏ với các công nghệ đã được thử nghiệm thành công với quy mô, số lượng phù hợp điều kiện tự nhiên và nhu cầu than của nền kinh tế.

Ông Sơn cũng cho hay dự kiến từ nay đến 2015 sẽ tiến hành thử nghiệm bốn loại hình công nghệ gồm: khai thác hầm lò phần nông (mức -450/-600m), khai thác hầm lò phần dưới sâu (-600/-1.200m) và khí hóa than vỉa mỏng, vừa nằm nông (mức -300/-450m), vừa nằm sâu (-450/-900m).

Để phát triển bể than ĐBSH, TKV dự kiến tổng mức đầu tư trước mắt vào 11 dự án quan trọng khoảng 4,491 tỉ USD, trong đó các dự án thử nghiệm công nghệ chiếm 16,13%, các dự án địa chất chiếm 61,57%, số còn lại tập trung vào các dự án khai thác và xây dựng hạ tầng. Trong số 11 dự án trên, dự án địa chất thăm dò vùng Phủ Cừ - Tiền Hải có tổng mức đầu tư chiếm tới 61,57%, thời gian dự kiến kéo dài ít nhất 10 năm, bắt đầu từ 2010.

TKV cũng cho rằng nếu việc triển khai đề án phát triển bể than ĐBSH thành công thì giai đoạn 1 (đến trước 2018) sẽ đóng góp cho nền kinh tế 1.745 triệu thùng diesel/năm hoặc 2,3 tỉ kWh/năm. Ngoài ra, đề án sẽ góp phần cung cấp điện ổn định cho thủ đô Hà Nội, tỉnh Hưng Yên và các tỉnh liền kề chưa có nhà máy điện như Hà Nam, Nam Định, vùng Hà Tây và có thể cung cấp than cho cụm các dự án điện 1.800MW ở Thái Bình.

Tập quán canh tác của 180.000 hộ dân sẽ bị ảnh hưởng

"Kinh nghiệm của VN trong khai thác hầm lò tại vùng Quảng Ninh chỉ có thể áp dụng hạn chế cho vùng than ĐBSH"- giám đốc Nguyễn Thành Sơn nói. Ông cũng khẳng định nếu bể than ĐBSH được đưa vào khai thác sẽ chủ yếu áp dụng công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất.

Nếu công nghệ này được thử nghiệm thành công ở mỏ Tiên Dung (huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) thì TKV có thể đưa vào cân đối 30 tỉ tấn trữ lượng than (tăng 5-6 lần so với trữ lượng hiện có).

Theo đánh giá chủ quan của TKV, công nghệ khí hóa than ngầm là công nghệ năng lượng sạch tiềm năng, được nhiều quốc gia đánh giá cao hơn so với điện nguyên tử, là một "kho chứa cacbon khổng lồ" của thế giới. Than của ĐBSH sau khi được khai thác sẽ đáp ứng đủ nhu cầu về phát điện, sản xuất ximăng, luyện kim đen và màu, dùng làm chất đốt sinh hoạt... của VN.

Tuy nhiên, theo ông Sơn, lo ngại lớn nhất cho việc khai thác than tại bể than ĐBSH là sự ảnh hưởng đến hệ thống nước ngầm và sự lún sụt đất của vùng châu thổ sông Hồng. Các dự án phát triển bể than này rất nhạy cảm về mặt môi trường, liên quan đến quy hoạch tổng thể trên các địa bàn quan trọng như Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định.

Việc khai thác bể than ĐBSH chắc chắn sẽ có ảnh hưởng nhất định (cả tích cực lẫn tiêu cực) đến tập quán canh tác của 180.000 hộ dân trong vùng và quy hoạch của thủ đô Hà Nội trong giới hạn của vành đai 4 và 5. Trước mắt, trên địa bàn huyện Khoái Châu dự kiến sử dụng khoảng 150ha để triển khai các dự án, gồm phát triển các mỏ Bình Minh và Tây Sa, xây dựng các nhà máy điện và các công trình khác. Trên địa bàn tỉnh Thái Bình dự kiến sử dụng 150ha cho các dự án thử nghiệm.

Hiện tại TKV vẫn chưa có báo cáo đánh giá về tác động môi trường của bể than ĐBSH. Lý giải điều này một quan chức của TKV cho biết trên cơ sở số liệu thu được sau khi triển khai thăm dò vùng than Khoái Châu, TKV sẽ tổ chức soạn thảo báo cáo đánh giá tác động môi trường với nội dung đề cập đầy đủ các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường đất, nước ngầm, nước mặt, không khí và hệ động thực vật.

Cần đúng luật

(Trích văn bản của Bộ NN&PTNT gửi Bộ Công thương ngày 19-6-2009)

1. Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng cần được triển khai theo đúng các luật: khoáng sản, môi trường, đất đai, tài nguyên nước và các văn bản pháp lý liên quan.

2. Liên quan đến khu vực của đề án: Trước đây và hiện nay, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đang khảo sát, thăm dò và khai thác dầu khí và khí than (tập trung ở Thái Bình và đang triển khai ở các tỉnh xung quanh), vì vậy nếu được Chính phủ cho phép triển khai đề án, Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV) cần phối hợp, kết hợp chặt chẽ với PVN để thăm dò, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên của đất nước.

3. Các số liệu về trữ lượng than trong đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng chưa có căn cứ tin cậy. Trước khi đưa vào khai thác thử nghiệm như đề nghị của TKV, cần thiết phải tiến hành theo lộ trình: điều tra, khảo sát, thăm dò đánh giá trữ lượng; quy hoạch phát triển; kế hoạch khai thác thử nghiệm; kế hoạch cho các dự án khai thác chính thức.

4. Khi tiến hành khai thác thử nghiệm cần xác định vị trí hầm lò ở cách xa các khu dân cư để đảm bảo không ảnh hưởng đến đời sống, môi trường của người dân. Để tiến hành khai thác chính thức sau này (nếu được phép), cần phải chọn giải pháp kỹ thuật, công nghệ để đảm bảo không xảy ra sụt lún bề mặt làm ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản của người dân; an toàn của các công trình thủy lợi (đê điều, kênh mương...), giao thông; không ảnh hưởng đến nguồn nước mặt, nước ngầm và sản xuất nông nghiệp...

Bể than sông Hồng được phát hiện từ năm 1970

Bể than sông Hồng được phát hiện từ năm 1970, sau đó Tổng cục Địa chất cũng có tổ chức nhiều cuộc thăm dò tại ba tỉnh Hưng Yên, Nam Định và Thái Bình, dự báo có trữ lượng khoảng 210 tỉ tấn nhưng thực tế khai thác được bao nhiêu thì hiện nay TKV chưa tính toán được.

Sau khi đề án được Thủ tướng phê duyệt, TKV sẽ tiến hành khai thác thử nghiệm tại Hưng Yên và Thái Bình. Từ nay đến 2015 là giai đoạn thăm dò và thử nghiệm công nghệ, nếu kết quả thử nghiệm tốt thì sau 2015 sẽ phát triển ra nhiều mỏ.

Chủ tịch HĐQT Tập đoàn TKV Đoàn Văn Kiển cho biết TKV đã ký thỏa thuận với Tập đoàn Dầu khí VN (PVN) nhằm đẩy mạnh hợp tác. Theo đó, hai bên sẽ trao đổi và hợp tác xử lý thông tin về địa chất của các vỉa than đã thu được trong quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại ĐBSH. Hai bên cũng cam kết trước mắt sẽ cùng hợp tác đầu tư thăm dò và khai thác thử nghiệm một mỏ than trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

______________

Chi phí khảo sát: 6.000 tỉ đồng

Ông Nguyễn Văn Thuấn

Theo ông Nguyễn Văn Thuấn - cục trưởng Cục Địa chất và khoáng sản VN (Bộ Tài nguyên - môi trường): Các kết quả điều tra địa chất, tìm kiếm thăm dò sơ bộ, các lỗ khoan dầu khí và các kết quả đo địa chấn đã khẳng định tại đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có mỏ than quy mô lớn.

Vì vậy, việc điều tra, khảo sát là cần thiết. Tuy nhiên, đề án do Tập đoàn Than - khoáng sản VN (TKV) soạn còn nhiều điểm chưa rõ, chưa chuẩn về mặt chuyên môn cũng như pháp lý. TKV chỉ là một doanh nghiệp, việc điều tra khảo sát phải là của các cơ quan chức năng, của Nhà nước chứ không phải của TKV.

Sau khi xác định được số lượng, chất lượng than, cơ quan quản lý nhà nước sẽ kiến nghị các công nghệ phù hợp để khai thác. Khi đó có thể Nhà nước sẽ giao cho TKV khai thác nhưng cũng có thể đấu thầu, cho doanh nghiệp khác vào.

* Thưa ông, các chuyên gia ở Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật VN cho rằng tại ĐBSH không chỉ có mỏ than mà còn nhiều khoáng sản khác. Nếu vì muốn có tài nguyên mà khai thác không cẩn thận có thể gây sụt lún, biến toàn vùng thành hồ nước nhiễm mặn?

- Tất cả kết luận chỉ có thể đưa ra khi có khảo sát, đánh giá một cách khoa học từ thực tiễn. Nếu chỉ ngồi nghĩ, căn cứ vào những khả năng thì có thể nghĩ ra rất nhiều nguy cơ. Trong góp ý gửi Bộ Công thương, chúng tôi cho rằng điều kiện khai thác than ở ĐBSH là rất phức tạp. Than phân bố dưới sâu, nếu khai thác có thể phải khoan đến 2.000m. Khi than ở sâu, nó có khả năng ảnh hưởng đến nước ngầm.

Ngoài ra, do tầng đá khu vực này không bền vững, dễ sụt lún, lại nằm dưới khu vực đông dân cư nên các dự án khai thác phải đi từng bước thận trọng, theo đúng trình tự: điều tra, thăm dò, khai thác thử nghiệm và khai thác nhằm đảm bảo không rủi ro, có lợi ích kinh tế - xã hội, hạn chế tối đa các tác động đến môi trường sống.

Vấn đề quan trọng nhất là công nghệ. Hiện khai thác than ở độ sâu như ở ĐBSH thế giới cũng đã có công nghệ. Vấn đề là khảo sát, đánh giá thế nào và ta sẽ sử dụng công nghệ nào để khai thác.

* Và cả chuyện hiệu quả kinh tế sẽ ra sao, có đáng để đầu tư khai thác hay không?

- Đúng. Khai thác ở độ sâu cả ngàn mét thì chắc chắn sẽ tốn kém hơn khai thác than như hiện tại của TKV ở Quảng Ninh. Hiện Cục Địa chất và khoáng sản đang làm đề án về việc khảo sát, thăm dò cơ bản than ở ĐBSH. Phí khoan thăm dò rất lớn, đặc biệt với yêu cầu khoan sâu như ở bể than ĐBSH.

Qua tính toán sơ bộ, chi phí khảo sát này chia làm hai giai đoạn, từ 2010-2015 sẽ tốn khoảng 2.500 tỉ đồng, tổng quá trình khảo sát đến 2020 ước cũng phải mất tới 6.000 tỉ đồng. Đó mới là chi phí để xác định trữ lượng than cụ thể là bao nhiêu, phân bố thế nào... để trả lời câu hỏi có nên đầu tư cho khai thác không, còn chi phí cho công nghệ, khai thác lại khác.

Qua nhận định ban đầu, chúng tôi cho rằng than ở khu vực bể ĐBSH có thể có cả ở trong khu đồng bằng này và kéo cả ra vùng thềm lục địa, trữ lượng hàng trăm tỉ tấn. Đó mới là kết quả khảo sát từ những lỗ khoan cách nhau hàng trăm kilômet. Muốn đánh giá cụ thể phải có nhiều lỗ khoan dày hơn.

Một mỏ than đang được khai thác lộ thiên tại khu vực phường Hà Phong (thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh)  - Ảnh: Đỗ Hữu Lực

* Thưa ông, trong quá trình khai thác than nếu không kiểm soát tốt công nghệ để doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, không hoàn thổ, khả năng nguy hiểm cho toàn vùng ĐBSH là rất lớn?

- Hiện thế giới đã có nhiều công nghệ, có thể là khoan, rồi đốt cục bộ than bên dưới, khí hóa tài nguyên than hoặc khoan sâu xuống làm lò rồi lấy than... Công nghệ nào cũng yêu cầu hoàn thổ, nếu không sẽ rất nguy hiểm. Công nghệ hiện nay đã đảm bảo sau khi khai thác than, người ta có thể bơm trở lại bên dưới vật liệu khác thay thế, chống sụt lún.

Nếu cho khai thác thì công tác quản lý, kiểm soát phải rất chặt chẽ, không thể để doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, không hoàn thổ, gây nguy hiểm cho toàn vùng. Tuy nhiên, để khai thác được than ở ĐBSH sẽ còn là câu chuyện dài. Quá trình điều tra khảo sát sẽ mất thời gian. Muốn khai thác ít nhất chúng ta phải đợi 10 năm nữa.

* Theo ông, có nên để dành bể than sông Hồng lại cho con cháu mai sau khai thác không?

- Bây giờ chúng tôi chưa nói đến chuyện khai thác. Hiện chúng tôi mới đề nghị điều tra khảo sát cơ bản nắm rõ trữ lượng để có chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Còn chuyện khai thác có thể là 10-20 năm nữa hoặc có thể cả trăm năm sau. Nếu chúng ta thật sự có trữ lượng than lớn ở ĐBSH thì chúng ta sẽ là nước có trữ lượng than đứng thứ hai thế giới, sau Mỹ. Hiện theo tôi được biết, Mỹ cũng chưa đẩy mạnh khai thác để bán tài nguyên than của mình mà để dành cho mai sau.

Đề án sơ sài, chưa đạt yêu cầu

Ngày 25-5-2009, Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật VN và Tổng hội Địa chất VN đã thành lập ban phản biện "Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng" gồm 11 thành viên do GS.TS Trần Văn Trị làm trưởng ban.

Ban phản biện đã có ý kiến chung trong một văn bản dài năm trang khổ A4 gửi cho hội đồng thẩm định của Bộ Công thương. Tuổi Trẻ Cuối Tuần trích đăng phần kết luận và kiến nghị như sau:

1. Đề án phát triển bể than ĐBSH được Tập đoàn TKV xây dựng dựa theo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 76/TB-VPCP, nhưng theo mục III điểm 5 thì Thủ tướng Chính phủ "giao Bộ Tài nguyên - môi trường chỉ đạo Cục Địa chất và khoáng sản VN lập đề án điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên bể than ĐBSH và vùng phụ cận". Cho nên phần này không thuộc chức năng, nhiệm vụ của đề án này.

2. Đề án này không có các văn bản xét duyệt của Tập đoàn TKV mà đã đưa trình duyệt cấp trên là trái với các quy định hiện hành của Nhà nước.

3. Than nằm dưới vùng đồng bằng trù phú, dân cư đông đúc, có truyền thống văn hóa lâu đời, vì vậy phát triển bể than ĐBSH phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.

4. Bể than ĐBSH có tài nguyên dự báo khoảng 210 tỉ tấn than nâu chất lượng cao.

Điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình rất phức tạp, gây khó khăn trở ngại lớn cho công tác khai thác.

5. Khi khai thác phải đặc biệt chú ý vấn đề sụt lún, sụt lún tức thời, sụt lún lâu dài, sụt lún tại chỗ và sụt lún lan tỏa có thể biến đồng bằng phì nhiêu này thành hồ chứa nước nhiễm mặn.

Khi tháo khô mỏ phải đặc biệt chú ý sự nhiễm mặn, sự xâm lấn của nước biển, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự sống của con người, động thực vật vùng ĐBSH.

6. Khi khai thác than ở ĐBSH có thể làm thiệt hại đến tài nguyên khoáng sản khác (tài nguyên nước, nước khoáng, dầu khí, địa nhiệt...).

7. Cần thiết phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược có sự tham gia của các bộ, ngành hữu quan và được trình duyệt ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

8. Các đề án/dự án đã nêu ở trang 28 quyển A chỉ có một dự án thử nghiệm công nghệ khí hóa than và một dự án thử nghiệm công nghệ hầm lò là cần thiết. Nhưng các dự án này phải được lập thành dự án đầu tư và trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt và cấp giấy phép.

Sau khi dự án thử nghiệm công nghệ khí hóa than và thử nghiệm công nghệ khai thác hầm lò thành công, có hiệu quả kinh tế, trình Chính phủ xem xét quyết định các bước đi tiếp theo.

9. Qua nội dung nêu "đề án phát triển bể than ĐBSH" còn nhiều chỗ sơ sài, trùng lặp, thiếu cơ sở, chưa đạt yêu cầu của đề án theo các quy định hiện hành.

HỮU LỰC - C.V.KÌNH - XUÂN LONG thực hiện

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=336450&ChannelID=123

2015: Thăm dò xong một phần bể than sông Hồng

Cập nhật lúc 20:38, Thứ Tư, 11/11/2009 (GMT+7)
,

 - Theo định hướng Quy hoạch ngành than do Thủ tướng vừa phê duyệt, đến năm 2015 phải thăm dò xong một phần tài nguyên của bể than đồng bằng sông Hồng với diện tích 932 km2.

Mô tả ảnh.
Đẩy mạnh thăm dò than ở bể than sông Hồng. Ảnh: VNN
Theo định hướng quy hoạch, cuối năm 2015, hoàn thành thăm dò phần tài nguyên dưới mức -300m của bể than Đông Bắc; thăm dò xong một phần tài nguyên của bể than đồng bằng sông Hồng với diện tích 932 km2.

Cuối năm 2025, thăm dò xong tài nguyên khối Đông Quan và Vũ Tiên, khu Đông Hưng và Tiền Hải của bể than đồng bằng sông Hồng.

Thủ tướng yêu cầu quy hoạch phát triển ngành than phải trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên than của đất nước và phục vụ nhu cầu trong nước là chính.

Giảm dần xuất khẩu

Quy hoạch phải đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, phù hợp với sự phát triển chung của các ngành kinh tế khác. Chú trọng đầu tư cho công tác an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Có thể đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài để bổ sung nguồn than lâu dài cho nhu cầu trong nước.

Thủ tướng cũng lưu ý, đến năm 2015, ngành than cơ bản đạt các chỉ tiêu chính về môi trường tại các khu vực nhạy cảm (đô thị, khu dân cư, điểm du lịch...) và đến năm 2020, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn môi trường trên toàn bộ các vùng mỏ.


Dự báo nhu cầu than trong nước (gồm cả than bùn) đến giai đoạn 2025 là khoảng 382 triệu tấn, trong đó than cho điện đã chiếm khoảng 337 tấn.
Theo dự báo, từ năm 2013, Việt Nam phải nhập khẩu than mới đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Năm nay, nhu cầu than trong nước chưa đầy 20 triệu tấn, nhưng vào năm 2015, nhu cầu vọt lên 90 triệu tấn, bởi hàng loạt nhà máy nhiệt điện chạy than ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, nhà máy đạm đều đi vào sản xuất.

Năm nay, ngành than có thể đạt sản lượng 40 triệu tấn than thương phẩm. Trong số này, nhu cầu tiêu dùng trong nước chỉ vào khoảng một nửa. Nửa còn lại sẽ xuất khẩu. Trong khi đó, than là nguồn tài nguyên không thể tái tạo, phục hồi. 

Trước thực tế trên, Thủ tướng nêu rõ chủ trương với ngành than là phải đáp ứng tối đa nhu cầu than phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm việc xuất nhập khẩu hợp lý theo hướng giảm dần xuất khẩu và chỉ xuất các chủng loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng.

Chấm dứt sàng tuyển than nhỏ lẻ, thủ công

Thủ tướng cũng yêu cầu Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) căn cứ vào nhu cầu nội địa, xây dựng kế hoạch khai thác than cho từng năm, từng giai đoạn và có phương án nhập khẩu than.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, ngành than phải sớm hình thành thị trường cạnh tranh, hội nhập với khu vực và thế giới, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh. Đi kèm với yêu cầu này là phải tăng cường khâu chế biến than, tức là tập trung theo hướng chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm, thay vì xuất than thô hoặc những sản phẩm than chế biến đơn giản.

Thủ tướng cũng yêu cầu đẩy mạnh đầu tư sàng tuyển theo hướng tập trung, đến năm 2010 chấm dứt việc sàng tuyển than nhỏ lẻ, thủ công tại các kho bến xuất than.

Căn cứ vào định hướng này, Bộ Công Thương phải phối hợp xây dựng Quy hoạch nói trên, hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược, trình Thủ tướng vào quý III/2010.

Dự kiến, bể than sông Hồng có trữ lượng khoảng 210 tỷ tấn, gấp 20 lần trữ lượng than Quảng Ninh, trong đó 90% nằm ở tỉnh Thái Bình.

Từ cuối tháng 6/2009, đề án "phát triển bể than đồng bằng sông Hồng" đã được TKV xây dựng. Bộ Công Thương đã gửi đề án đến nhiều bộ, ngành để lấy ý kiến góp ý.

Giới khoa học đang quan ngại về tính khả thi của đề án, đặc biệt lo ngại vấn đề môi trường nước, môi trường sống, an ninh lương thực cũng như hiệu quả kinh tế.

  • L. Nhung

http://vietnamnet.vn/chinhtri/200911/2015-Tham-do-xong-mot-phan-be-than-song-Hong-878295/

Sẽ chất vấn Thủ tướng vụ PCI, bể than sông Hồng

Cập nhật lúc 06:38, Thứ Năm, 12/11/2009 (GMT+7)
,

 - Chuẩn bị cho phiên chất vấn diễn ra đầu tuần tới, một số ĐBQH nói sẽ chất vấn Thủ tướng tiến độ xử lý vụ PCI và đề án khai thác bể than sông Hồng.

Phó Chủ nhiệm UB Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên, Nhi đồng QH Nguyễn Minh Thuyết:

Tôi sẽ hỏi Thủ tướng vì sao tiến độ xử vụ PCI chậm

Tôi đã gửi câu hỏi chất vấn đến Thủ tướng là vì sao tiến độ xử lý vụ PCI chậm như vậy. Chính phủ có được các đối tác như Úc, Đức, Mỹ... thông báo về những vụ việc tương tự hay không?

Thái độ của Chính phủ như thế nào? Thủ tướng có tán thành việc lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội để phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra hay không?

Mô tả ảnh.

ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết: Thủ tướng có tán thành việc lập Ủy ban đặc biệt của Quốc hội để phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra hay không? Ảnh: Lê Nhung

Tôi hỏi Thủ tướng như vậy vì tại kỳ họp Quốc hội cuối năm ngoái, tôi đã chất vấn ông về vụ PCI. Vừa rồi, các vị Bộ trưởng Công an, Tổng Thanh tra Chính phủ và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã nêu một số lý do khiến xử lý vụ PCI bị chậm (phía Nhật chuyển tài  liệu muộn; quá trình dịch tài liệu kéo dài... - PV).

Tôi nghĩ mọi người đều hiểu rằng điều tra nghi án về tham nhũng rất phức tạp, cần làm thận trọng để tránh oan sai. Nhưng tiến độ xử lý như vậy là quá chậm chạp: Sau một năm mới hoàn thành được việc đầu tiên là dịch tài liệu.

Chính vì lý do này mà tôi nghĩ đến giải pháp kiến nghị Quốc hội lập Ủy ban đặc biệt để cùng phối hợp hành động, thúc đẩy nhanh quá trình điều tra, xử lý. Nếu thành lập, chắc Ủy ban Tư pháp sẽ là nòng cốt.

Vì là lần đầu tiên thực hiện quy định về lập ủy ban đặc biệt nên nếu được một Phó Chủ tịch Quốc hội phụ trách thì rất tốt. Nhưng tôi cũng mới có ý tưởng như vậy thôi, chưa đề xuất kiến nghị lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vì còn chờ ý kiến của Thủ tướng.

Câu hỏi thứ hai tôi gửi Thủ tướng là: Vừa qua, rất nhiều luật đã có hiệu lực nhưng nhiều quy định trong luật không thi hành được vì thiếu văn bản hướng dẫn. Việc nợ văn bản hướng dẫn luật nhìn chung khá phổ biến. Là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng có trách nhiệm như thế nào?

Ngoài các câu hỏi gửi Thủ tướng, tôi còn gửi câu hỏi chất vấn Bộ trưởng Ngoại giao xung quanh giải pháp bảo vệ ngư dân đánh bắt cá trên biển, chất vấn Bộ trưởng Y tế về kết quả giải quyết tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên và kế hoạch, biện pháp trong thời gian tới để giải quyết vấn đề này.

Tôi cũng gửi chất vấn tới Bộ trưởng Tài chính về tình hình làm ăn thua lỗ nặng, kéo dài của hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific và trách nhiệm của đại diện sở hữu vốn nhà nước trong hãng bay liên doanh này và chất vấn Bộ trưởng Nội vụ về việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng.

Trưởng đoàn ĐBQH Hưng Yên Vũ Quang Hải:

Tôi chất vấn về khai thác bể than sông Hồng

Trong đợt tiếp xúc cử tri chuẩn bị cho kỳ họp thứ 6, đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên đã nhận được một số ý kiến của cử tri băn khoăn về việc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) trình Thủ tướng cho phép khai thác thí điểm mỏ than nâu sông Hồng tại huyện Khoái Châu.

Mô tả ảnh.

ĐBQH Vũ Quang Hải: Chọn an ninh lương thực hay an ninh năng lượng? Ảnh: Lê Nhung

Tôi đã gửi những băn khoăn của cử tri Hưng Yên lên Bộ trưởng Công Thương. Nếu chưa nhận được câu trả lời của Bộ Công Thương, tôi dự định sẽ chất vấn lên Thủ tướng.

Việc khai thác than nâu của TKV theo công nghệ hầm lò phần nông - sâu và khí hóa ngầm dưới lòng đất là những công nghệ mà một số nước đã làm nhưng thời gian kiểm nghiệm công nghệ chưa dài. Nếu Việt Nam áp dụng sớm thì e là chưa có kinh nghiệm.

Lo ngại thứ hai là những tác động sụt lún, nước chảy vào mỏ với vận tốc 20 ngàn mét khối mỗi giờ, nếu khai thác ở độ sâu dưới 300 mét, xử lý ra sao khi các vấn đề này sau 20 - 30 năm mới bộc lộ?

Mặt khác, tại sao lại lựa chọn TKV làm thí điểm trong khi Bộ TN&MT vẫn còn chưa có đầy đủ các căn cứ khoa học khẳng định về trữ lượng, công nghệ, tác động môi trường, nước ngầm cùng nhiều vấn đề xã hội khác?

Vấn đề hiện nay là chọn an ninh lương thực hay an ninh năng lượng, trong khi Việt Nam đang có thế mạnh về xuất khẩu lương thực mà vựa lúa đồng bằng sông Hồng đóng góp không nhỏ. Hay các nhà quản lý đứng nhìn hàng triệu nông dân của vùng dự án phải sống trong lo lắng mất đất, mất việc làm, xâm nhập nước mặn, sụt lún...?

Người dân ở Hưng Yên cũng chỉ biết tìm thông tin trên mạng và báo chí. Bà con ở xã sở tại được cung cấp thông tin nhưng chủ yếu là thông tin một chiều.

Một sự việc ảnh hưởng tới hàng triệu hộ dân có được đặt trong chương trình nghị sự của hội đồng nhân dân tỉnh hay Quốc hội để xem xét, quyết định không? Ai là người chịu trách nhiệm, hay lại đặt các cơ quan dân cử vào những việc đã rồi?

Phiên chất vấn sẽ bắt đầu vào ngày 17/11. Dự kiến, bộ trưởng các bộ Công Thương, Thông tin - Truyền thông, Nội vụ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ đăng đàn. Thủ tướng sẽ là dành trọn buổi sáng cuối cùng của phiên chất vấn (19/11) để trả lời. Tính đến nay, 246 câu hỏi đã được gửi đến các thành viên Chính phủ.

  • Lê Nhung

http://vietnamnet.vn/chinhtri/200911/Se-chat-van-Thu-tuong-vu-PCI-be-than-song-Hong-878333/