Thứ Tư, 30 tháng 9, 2009

Chủ tịch Tập đoàn Than Khoáng sản xin từ chức

Ngày 30/9, ông Đoàn Văn Kiển, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp Than và khoáng sản Việt Nam (TKV) đã có đơn từ chức gửi Thủ tướng.

Ông Lê Tuấn Minh, Phó bí thư thường trực TKV đã xác nhận thông tin trên với VnExpress.net.

Tuy nhiên, tại cuộc họp báo sáng nay, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, hiện Văn phòng Chính phủ vẫn chưa nhận được đơn từ chức của ông Kiển. "Sau khi nhận được đơn, Chính phủ sẽ xem xét nghiên cứu nguyện vọng của ông Kiển", ông Phúc nói.

Cũng theo ông Phúc, Ban cán sự Đảng Chính phủ đã họp bàn về những kiến nghị của Ủy ban kiểm tra Trung ương về việc kiểm điểm, xem xét cho ông Kiển thôi chức. Tuy nhiên, ông Đoàn Văn Kiển là cán bộ thuộc trung ương quản lý. Do đó, việc kỷ luật cũng cần phải có quy trình thống nhất.

Trước đó chiều ngày 28/9, Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Công Thương làm việc với TKV để họp bàn về những kiến nghị của Ủy ban kiểm tra Trung ương đề nghị Ban cán sự Đảng Chính phủ xem xét cho ông Đoàn Văn Kiển thôi chức. Tuy nhiên, buổi làm việc vẫn chưa có kết luận rõ ràng.

Ngày 4/9, ông Đoàn Văn Kiển đã nhận quyết định kỷ luật cảnh cáo về Đảng của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng quản lý làm thất thoát hàng triệu tấn than.

Bách Hợp

http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Kinh-nghiem/2009/10/3BA1412A/

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

Vì sao ông Đoàn Văn Kiển chưa bị thôi chức?

TP – Ngày 4/9, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã công bố quyết định kỷ luật cảnh cáo về Đảng đối với ông Đoàn Văn Kiển, đồng thời cũng đề nghị Ban cán sự Đảng Chính phủ xem xét, đề nghị Chính phủ cho ông Kiển thôi chức. Tuy nhiên, đến nay ông Kiển vẫn tại vị.

11468
Ông Đoàn Văn Kiển. Ảnh: Hồng Vĩnh

Tiền Phong có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Đình Phách, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm UBKT Trung ương xung quanh vấn đề này.

Kỷ luật cảnh cáo về Đảng là nghỉ luôn

Thưa ông, Ban cán sự Đảng Chính phủ đã thực hiện ra sao đề nghị của UBKT Trung ương, về việc cho ông Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch TKV thôi chức?

Đến nay thì tôi chưa thấy Chính phủ có quyết định cho ông Kiển thôi chức.

Nhưng UBKT Trung ương có đặt ra thời gian để Ban cán sự Đảng Chính phủ thực hiện đề nghị đó, thưa ông?

Ủy ban không đặt ra thời gian thực hiện nhưng sai phạm thế thì phải cho nghỉ.

Nhưng thưa ông, ở đây có quy định nào bắt buộc Ban cán sự Đảng Chính phủ phải thực hiện theo kiến nghị của UBKT Trung ương không?

Cái này có cơ chế, quy định thống nhất giữa Đảng và Nhà nước là đã kỷ luật về Đảng thì kỷ luật về chính quyền phải đồng bộ và tương đương. Và trên thực tế, cán bộ đã bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng thì hầu như đều phải cho nghỉ.

Ví dụ như trường hợp ông Võ Thanh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng là cho nghỉ luôn; Hay như trường hợp ông Đào Đình Bình, cựu Bộ trưởng GTVT…cũng vậy. Đã bị cảnh cáo về Đảng là cho nghỉ luôn.

Kỷ luật Đảng phải nghiêm

Nhưng nếu "tương đương" thì bên chính quyền cũng chỉ kỷ luật cảnh cáo thôi, thưa ông ?

Theo một nguồn tin, hôm qua, lãnh đạo Vụ tổ chức cán bộ, Bộ Công Thương có buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt TKV, để nghe ý kiến của lãnh đạo TKV về cá nhân ông Đoàn Văn Kiển.

Một thành viên buổi làm việc cho biết, cuộc làm việc này là những thủ tục bước đầu để thực hiện kiến nghị của UBKT Trung ương, về đề nghị Ban cán sự Đảng Chính phủ xem xét việc cho ông Đoàn Văn Kiển thôi chức.


Tuy nhiên, kết thúc buổi làm việc cũng chưa có kết quả rõ ràng.

N.A.

Đó là tùy bên đó thôi (Ban cán sự Đảng Chính phủ). Tôi nói thật nhé, nếu không vì ông Kiển đã cao tuổi rồi (60 tuổi), có công đóng góp cho ngành than thì UBKT Trung ương đã cách tất cả các chức vụ trong Đảng rồi, như vậy thì khỏi phải nói gì nữa. Tôi nói thật chứ ông ấy làm thất thoát như thế….

Khi Ban cán sự Đảng Chính phủ có quyết định kỷ luật về chính quyền đối với ông Kiển thì có phải thông báo lại cho UBKT không, thưa ông?

Về nguyên tắc thì phải gửi cho Ủy ban để biết chứ! Mà nói thật, cái này còn liên quan đến thẩm quyền của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Nếu thấy cần thiết, Ban Bí thư Trung ương Đảng sẽ có chỉ đạo.

Hiện Ban Bí thư đã có chỉ đạo chưa, thưa ông?

Chưa, vì bây giờ mọi việc đang nằm trong tay Ban cán sự Đảng Chính phủ.

Nhưng nếu bên chính quyền không cho thôi chức mà chỉ kỷ luật cảnh cáo rồi để ông Kiển tại vị cho đến lúc nghỉ hưu thì sao, thưa ông?

Cái đó thì mình cũng chưa lường được. Còn tất nhiên cái đó thuộc thẩm quyền của các anh ấy. Vì từ khi công bố quyết định kỷ luật ông Kiển (ngày 4/9/2009) đến nay thì bên đó cũng chưa có văn bản hồi âm cho Ủy ban, nên mình cũng chưa có ý kiến gì về chuyện này.

Tôi nói, có trường hợp một thứ trưởng về làm chủ tịch một tỉnh, đáng ra quy hoạch lên bí thư Tỉnh uỷ nhưng vừa rồi bị kỷ luật khiển trách là thôi luôn, làm quy trình cho người khác làm bí thư ngay. Kỷ luật Đảng phải nghiêm như thế mới được, chứ mình cứ bảo chống nọ chống kia, nếu không nghiêm thì làm thế nào được.

Nên anh Nguyễn Văn Chi (Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm UBKT Trung ương), khi nhận được đơn (do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh chuyển) của tập thể cán bộ, người lao động ngành than phản ánh việc những việc làm gây thiệt hại cho ngành than của ông Kiển, việc chưa cho ông Kiển nghỉ là chậm trễ… Và anh Chi đã chuyển đơn đó cho tôi, để đôn đốc Ban cán sự Đảng Chính phủ thực hiện kiến nghị của UBKT Trung ương.

Từ hôm công bố quyết định kỷ luật đến nay đã 24 ngày nhưng ông Kiển vẫn tại vị. Như vậy việc thực hiện kiến nghị của UBKT Trung ương có chậm, thưa ông?

Đến nay chúng tôi chưa nhận được hồi âm, có thể là bên đó (Ban cán sự Đảng Chính phủ) các anh có việc bận nên chưa làm.

Nên từ chức

Thưa ông, nghe nói hôm công bố quyết định kỷ luật, chính ông đã gợi ý ông Kiển nên viết đơn xin từ chức?

Thì hôm đó tôi nói thẳng. Tôi cũng phân tích, một là UBKT Trung ương cũng chiếu cố xem xét khía cạnh ông Kiển có thời gian cống hiến khá lâu cho ngành than, nhưng ông cũng có khuyết điểm (như trong thông báo), đồng thời ông Kiển lại bị kỷ luật cảnh cáo hai lần. Mà thông thường như trong bóng đá, hai lần bị thẻ vàng là thành một thẻ đỏ, phải ra khỏi sân.

Ông Kiển bị cảnh cáo hai lần, đáng ra như ông Kiển phải bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng. Nhưng UBKT Trung ương đã cân nhắc ông Kiển có đóng góp cho ngành than, hơn nữa cũng lớn tuổi rồi, thì xử lý kỷ luật mức cảnh cáo Đảng và đề nghị Ban cán sự Đảng Chính phủ cho thôi giữ chức, về nghỉ như thế là có tình có lý quá rồi còn gì.

Khi ông gợi ý ông Kiển nên viết đơn xin nghỉ, ông Kiển nói sao?

11467
Ông Nguyễn Đình Phách

Ông ấy không nói gì, mà chỉ rơm rớm, nên tôi cũng không nói gì thêm. Còn hôm tôi làm việc với Ban cán sự Đảng Chính phủ, làm việc với anh Nguyễn Sinh Hùng (Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ-PV) thì tôi cũng nói rõ là UBKT Trung ương đã quyết định và kiến nghị rõ ràng như thế rồi.

Thưa ông, sau khi công bố quyết định kỷ luật, ông Kiển trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong nói đại ý, UBKT khi kiểm tra đã bắt lỗi từ ngữ nên ông ấy phải chấp nhận?

Tôi nói bắt lỗi từ ngữ cái gì, ông ấy để cho em ruột làm ăn như thế cũng được à? Ký với công ty của em ruột ông ấy, ký với Công ty cổ phần phát triển Công nghiệp Quảng Ninh. Số thất thoát về than và tiền tôi phải rất cẩn thận, yêu cầu anh em phải làm cho đúng, để người bị kiểm tra phải tâm phục, khẩu phục. Và chính ông Kiển cũng phải thừa nhận trách nhiệm trong việc ký văn bản sai, gây thất thoát lượng than lớn, quy ra thành tiền.

Nói như ông, nếu sòng phẳng về lý thì ông Kiển phải bị kỷ luật cách tất cả các chức vụ?

Nói thật như thế cũng là phúc tổ rồi. Nói cho đúng chúng tôi vì sự nghiệp chung chứ chả có vấn đề gì. Còn tất nhiên sau này các anh bên Chính phủ xem xét những yếu tố nào thì mình không rõ…

Vậy thưa ông, có quy định nào để UBKT Trung ương thực hiện giám sát cơ quan phải  thực hiện kiến nghị của mình không?

Có chứ, chúng tôi có trách nhiệm đôn đốc việc thực hiện kiến nghị đó. Còn khi Ban cán sự Đảng Chính phủ có quyết định, tùy tình hình chúng tôi sẽ có những động thái tiếp theo. Nếu UBKT Trung ương thấy việc xử lý về chính quyền là chưa phù hợp thì có thể chúng tôi báo cáo lên cấp trên, tất nhiên cái này phải do tập thể UBKT Trung ương quyết định.

Cảm ơn ông.

Bá Kiên
Thực hiện

Nguồn: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=173008&ChannelID=2

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

ĐB sông Hồng có thể thành bể nước mặn nếu khai thác than?

Chuyên gia cảnh báo, muốn khai thác than phải tháo khô mỏ, có thể gây sụt lún lan tỏa theo bề mặt khiến đồng bằng biến thành hồ chứa nước mặn...

Còn quá nhiều lo ngại, thắc mắc của 17 bộ, ngành, chính quyền địa phương về tác động của khai thác than ở Đồng bằng (ĐB) sông Hồng đối với môi trường, địa chất, tài nguyên khác gửi về Bộ Công thương. Trong khi đó, các giải pháp khắc phục của Tập đoàn Công nghiệp Than & khoáng sản Việt Nam (TKV) đưa ra chưa làm yên lòng hầu hết cơ quan phản biện, nghiên cứu khoa học.

Chỉ nên thử nghiệm hai dự án

Giáo sư Trần Văn Trị, Phó chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam, đánh giá, điều kiện địa chất thủy văn và địa chất công trình ở bể than ĐB sông Hồng vô cùng phức tạp.

Đơn cử tại khu vực mỏ Bình Minh, Hưng Yên, một  trong những địa điểm chính TKV dự định thí điểm khai thác công nghệ hầm lò và khí hóa than ngầm dưới lòng đất, báo cáo của chính TKV cho thấy, nếu khai thác ở độ sâu -300 m, lưu lượng nước chảy vào mỏ có thể lên tới hơn 20.000 m3 mỗi giờ.

Ông Nguyễn Phụ Vụ nhận xét TKV chưa báo cáo cụ thể về chiếm dụng đất đai trong cả quá trình thăm dò và khai thác. Ảnh minh họa.

Phó hiệu trưởng ĐH Mỏ - Địa chất, Nguyễn Phụ Vụ không hài lòng vì phần khai thác của đề án chưa thiết kế phương án bơm thoát nước. Đồng thời, báo cáo tác động môi trường chưa phản ánh đầy đủ tình trạng lượng nước ngầm bơm ra không kịp ngấm trở lại sẽ làm hạ mực nước ngầm trong khu vực, từ đó có thể gây sụt lún cục bộ khu mỏ, cũng như khu vực xung quanh.

Một công nghệ chống sụt lún được TKV tính tới là chèn lò bằng thủy lực cát (chèn cát vào nơi lấy than ra để khỏi sụt lún). Nhưng Phó hiệu trưởng Vụ vẫn băn khoăn: "Khối lượng cát rất lớn định lấy từ nguồn sông Hồng có đủ không, ảnh hưởng thế nào đối với dòng chảy, nếu không đủ sẽ sử dụng nguồn thay thế từ đâu?"

Đặc biệt, giáo sư Trị cảnh báo, muốn khai thác than phải tháo khô mỏ, có thể dẫn đến gây nhiễm mặn môi trường sinh thái trên mặt đất. Đồng thời gây sụt lún tức thời và lâu dài (có khi kéo dài hàng chục, hàng trăm năm), đặc biệt là sụt lún lan tỏa theo bề mặt khiến đồng bằng có thể biến thành hồ chứa nước mặn... nhưng đề án chưa tính toán kỹ giải pháp đối phó.

Do đó, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Quý, thành viên Hội đồng thẩm định đề án bể than Đồng bằng Sông Hồng của Bộ Công thương đề xuất chỉ thử nghiệm ở 2 mỏ thay vì 4 như đề xuất của TKV. Sau khi có kết quả mới thăm dò bổ sung vùng than Khoái Châu (Hưng Yên).

Xung đột than - khí – lúa

Giáo sư Trần Văn Trị nhấn mạnh, trên Đồng bằng Sông Hồng không chỉ có than mà còn nhiều khoáng sản khác, đặc biệt là dầu khí. Do đó, khi tác động đến một yếu tố riêng lẻ sẽ khó tránh khỏi làm xáo trộn toàn hệ thống.

Mới đây, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) trình Bộ Công thương báo cáo cho biết đã ký hai hợp đồng phân chia sản phẩm với đối tác nước ngoài nhằm khai thác khí than, tách khí từ than sau khi hút nước lên, chính tại khu vực triển khai chính của đề án bể than Đồng bằng Sông Hồng là hai tỉnh Hưng Yên, Thái Bình.

Cả hai dự án đã được Bộ Kế hoạch - Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư và đang tích cực thăm dò khí than. Trưởng ban Tìm kiếm thăm dò dầu khí Hoàng Ngọc Đan (PVN) bức xúc: "Trên cùng một diện tích có hai nhà thầu cùng thăm dò khai thác khí than, khí hóa than rất dễ phát sinh mâu thuẫn và thực tế đã xảy ra tại Hưng Yên. Đề nghị Bộ Công thương có cơ chế giải quyết mâu thuẫn này".

Chưa hết, bể than đồng bằng sông Hồng nằm dưới vựa lúa của khu vực nên những tác động về môi trường khiến không ít người lo ngại than và khí sẽ "giết chết" lúa. 

Theo đề án của TKV, trong hoặc sau khi khai thác thử nghiệm bốn dự án khai thác hầm lò phần nông – sâu, khí hóa ngầm dưới lòng đất phần nông – sâu tại Hưng Yên và Thái Bình, nếu sụt lún mặt đất dưới 1 m có thể bồi hoàn bằng đất phù sa sông Hồng gần đó với tỷ lệ 1 m3 than bù 1,2 m3 đất.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên, ông Nguyễn Thanh Quán, phản đối giải pháp này vì không thể canh tác lúa nước trên đất… phù sa.

Theo tính toán của TKV, nếu thử nghiệm thành công, dự kiến đến cuối năm 2012 mỏ Tiên Dung có thể đạt công suất 3,7 tỷ Nm3 khí mỗi năm và nhà máy điện khí 115 MW hoặc nhà máy khí hóa lỏng 58,2 vạn thùng dầu diesel mỗi năm. Mỏ Bình Minh có thể hoạt động vào năm 2015 với công suất 3 triệu tấn than mỗi năm.

Dự kiến mỏ Tây Sa, Đông Hoàng, hoạt động vào năm 2018 và 2020 cùng với công suất khoảng 5 triệu tấn mỗi năm.
Nhưng Phó hiệu trưởng Nguyễn Phụ Vụ đề nghị TKV cân đối lại chi phí, giá thành sản phẩm cũng như lợi nhuận vì một số dự toán được tính quá lớn.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

Thẩm định đề án 210 tỷ tấn than sông Hồng

Sau buổi thẩm định các đề xuất của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) ngày 23/9, Hội đồng thẩm định do Bộ Công Thương chủ trì sẽ kiến nghị Thủ tướng cho phép quy hoạch thăm dò, khai thác chế biến, sử dụng than năm 2020- 2030.
> Mở bể than 210 tỷ tấn, sụt lún là đáng lo ngại

Sáng 23/9, tại phiên họp thẩm định đề án Phát triển bể than đồng bằng sông Hồng do Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang chủ trì, tổ địa chất thuộc Hội đồng thẩm định đã báo cáo hội đồng về kết quả khảo sát.

Đề án Phát triển bể than đồng bằng sông Hồng do TKV trình bày cho thấy trữ lượng than vùng sông Hồng dự báo khoảng 210 tỷ tấn, gấp 20 lần lượng than Quảng Ninh, trong đó có tới 90% nằm ở tỉnh Thái Bình. Đề án được dư luận quan tâm về tính khả thi cùng nguy cơ ô nhiễm môi trường sau quá trình khai thác. Bởi vậy vấn đề thẩm định rất được chú trọng.

Ảnh Hoàng Hà
TKV dự kiến năm 2010 thử nghiệm công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất ở Khoái Châu. Ảnh: Hoàng Hà.

Thứ tưởng Lê Dương Quang cho VnExpress.net hay, nhìn chung Hội đồng thẩm định đánh giá báo cáo của TKV về đề án chứa đựng nhiều thông tin giá trị và là cơ sở quan trọng để tiếp tục quy hoạch phát triển bể than đồng bằng sông Hồng.

Hội đồng đã đưa ra 3 kiến nghị, trong đó đề nghị Chính phủ chấp thuận cho TKV phát triển quy hoạch thăm dò, khai thác chế biến và sử dụng than năm 2020- 2030. Bên cạnh đó, Hội đồng cũng đề xuất Thủ tướng chấp thuận về mặt chủ trương cho phép thử nghiệm hai công nghệ khai thác hầm lò và khí hóa than ngầm. Trước đó, Thủ tướng đã phê duyệt đề án Tìm kiếm đánh giá bể than đồng bằng sông Hồng. Trong phiên họp hôm nay, Hội đồng đề nghị tiếp tục đẩy mạnh đề án này. Theo Thứ trưởng Quang, các kiến nghị sẽ được trình lên Thủ tướng xem xét, nghiên cứu.

Trong cuộc trao đổi gần đây, ông Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng sông Hồng, chủ đầu tư các dự án năng lượng thuộc bể than đồng bằng sông Hồng (thuộc TKV) cho hay, mở bể than 210 tỷ tấn, vấn đề sụt lún khá lo ngại. Tuy nhiên, ông Sơn vẫn tin rằng, có thể kiểm soát được những kết quả không mong muốn trong quá trình thử nghiệm. Nếu có ảnh hưởng nghiêm trọng về vấn đề sụt lún, đề án sẽ bị hủy bỏ.

Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) dự kiến có 4 dự án thử nghiệm công nghệ và sẽ tiến hành thử nghiệm 3 công nghệ tại Hưng Yên và 1 ở Thái Bình. Bốn dự án thử nghiệm gồm 2 phương án công nghệ khai thác hầm lò phần nông (mức -450/-600 m), phần sâu (-600/-1.200 m) và 2 phương án công nghệ khí hóa than ngầm cũng ở phần nông (mức-300/-450m) và phần sâu (-450/-900 m). TKV dự kiến năm 2010 thử nghiệm công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất ở Khoái Châu, Hưng Yên với chi phí khoảng 6,5 triệu USD.

Bộ Công Thương đã phối hợp với các Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn... cùng UBND tỉnh Thái Bình, Hưng Yên thành lập Hội đồng thẩm đồng thẩm định đề án Phát triển bể than đồng bằng sông Hồng. Hội đồng này gồm các tổ thẩm định đề án về địa chất, công nghệ và môi trường, kinh tế và cơ chế chính sách, tổng hợp. Để đảm bảo việc thẩm định khách quan, Bộ Công Thương đã mời hai cơ quan tư vấn phản biện là Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Đại học Mỏ Địa chất cùng một số nhà khoa học hoạt động độc lập làm công tác tư vấn.

Hoàng Lan

http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2009/09/3BA13C3D/

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2009

TKV lập hai hệ thống báo cáo: Mất hàng chục ngàn tấn than

TKV lập hai hệ thống báo cáo:

Mất hàng chục ngàn tấn than

Cập nhật lúc 10:58, Thứ Ba, 22/09/2009 (GMT+7)
,

Một lái xe gửi đơn tố cáo, tại Xí nghiệp 790, Tổng Cty Than Đông Bắc (TKV) lâu nay lập hai hệ thống báo cáo, điều chỉnh số liệu than chênh lệch hàng chục ngàn tấn, để tuồn ra ngoài, gây thất thoát tài nguyên quốc gia.

Mô tả ảnh.

Việc Xí nghiệp 790 lập hai hệ thống báo cáo, gây bất bình cho các lái xe tại phân xưởng vận tải, chế biến

Theo điều tra của phóng viên, vụ việc vỡ lở, khi ngày 25/5/2009, Giám đốc Xí nghiệp 790 - ông Nguyễn Đình Du có Quyết định số 331, tạm đình chỉ công tác đối với 33 lái xe, do quản lý nhiên liệu (dầu) quá định mức quý I/2009.

Theo quyết định này, 33 lái xe đều có số lượng nhiên liệu vượt định mức, người thấp nhất cũng trên 1.000 lít, người nhiều lên đến trên 4.000 lít. Ngoài việc bị tạm đình chỉ công tác, các lái xe này còn phải bồi thường số nhiên liệu bị hao hụt (cả chục triệu đồng mỗi người).

Trao đổi với Tiền Phong, anh Trần Thanh Tài, một trong những lái xe bị tạm đình chỉ công tác nói: "Chúng tôi thấy quá vô lý, vì hàng tháng anh em nhận lương, đều thấy số dầu tiết kiệm là dương, nên đi sâu tìm hiểu, mọi người té ngửa là lâu nay lãnh đạo xí nghiệp lập hai hệ thống báo cáo riêng, nhằm gian lận hàng chục ngàn tấn than của nhà nước".

Chẳng hạn như bản thân anh Tài và anh Phạm Xuân Long (cùng lái xe số 05), theo quyết định tạm đình chỉ công tác, số dầu vượt định mức quý I/2009 là 2.653 lít. Tuy nhiên, trong bản xác nhận khối lượng vận chuyển hàng tháng, số nhiên liệu tiết kiệm tháng 3/2009 của riêng anh Tài là 226 lít.

Vì sao lại có sự chênh lệch này? Theo anh Tài, do số liệu trong sổ cấp phát dầu mỡ của thủ kho không chính xác, nhiều số liệu bị tẩy xoá, chỉnh sửa. Đặc biệt, nhiều phiếu xuất nhiên liệu không có chữ ký của lái xe, mà do người lập phiếu tự ký khống. Chính vì thế, lái xe không đồng ý với quyết định đình chỉ công tác của lãnh đạo xí nghiệp.

Theo biên bản làm việc ngày 4/8/2009, giữa giám đốc Xí nghiệp và anh Nguyễn Thanh Tài, qua xác minh sổ cấp phát đã được tổ xây dựng định mức giao khoán nhiên liệu, từ ngày 1/2 đến ngày 25/3/2009 (tổng số 53 ngày), thì số ngày lái xe lấy dầu có chữ ký giống nhau là 29 ngày, số ngày lấy dầu có chữ ký khác nhau là tám ngày, hai ngày lấy dầu không có chữ ký lái xe và bốn ngày lấy dầu có chữ số đã bị tẩy xoá.

"Điều này chứng tỏ có sự gian lận, trong việc cung cấp nhiên liệu cho lái xe. Vì thế, không thể lấy số liệu đó để kỷ luật chúng tôi", anh Tài nói.

Hàng chục ngàn tấn than đi đâu?

Không chỉ có sự mập mờ trong cấp phát nhiên liệu cho lái xe, từ phản ánh của người tố cáo, phóng viên Tiền Phong điều tra, phát hiện Xí nghiệp 790 lâu nay còn lập hai hệ thống báo cáo, có số liệu sai lệch lớn.

Hàng tháng, Xí nghiệp 790 có hai báo cáo về số liệu liên quan khai thác, vận chuyển than, cung đường vận chuyển: một Biên bản nghiệm thu khối lượng mỏ (số liệu cập nhật từ thực tế công trường, đây cũng là căn cứ để thanh toán lương cho cán bộ xí nghiệp) và một Bảng quyết toán khối lượng mỏ (dùng để báo cáo và quyết toán với Tổng Cty).

Về nguyên tắc, Xí nghiệp 790 là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc Tổng Cty Than Đông Bắc, nên số liệu của các báo cáo phải giống nhau. Tuy nhiên, qua đối chiếu hai hệ thống số liệu này có sự sai lệch rất lớn.

Ví dụ, ngày 1/1/2009, Biên bản nghiệm thu khối lượng mỏ (tháng 12/2008), do ông Nguyễn Đình Du, Giám đốc Xí nghiệp 790, Chủ tịch Hội đồng và một số thành viên ký, số lượng than giao nội bộ Tổng Cty Than Đông Bắc là 22.935 tấn. Nhưng tại Bảng quyết toán khối lượng mỏ (cũng tháng 12/2008), cũng ông Nguyễn Đình Du, Giám đốc Xí nghiệp, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu và một số thành viên khác ký, số lượng than giao nội bộ Tổng Cty Than Đông Bắc đã được điều chỉnh chỉ còn 6.414 tấn (làm tròn số), giảm 16.521 tấn.

Theo quy định của Tổng Cty Than Đông Bắc, toàn bộ số than mà Xí nghiệp 790 khai thác phải giao cho nội bộ Tổng Cty (ở đây là giao cho Cty Cảng, đơn vị thành viên của Tổng Cty Than Đông Bắc). Quy định này nhằm quy việc bán, xuất khẩu than về một đầu mối, hạn chế việc móc ngoặc, tuồn than ra ngoài bán của các đơn vị khai thác than.

Vậy số lượng than chênh lệch trên, Xí nghiệp 790 không giao cho Tổng Cty, đã đi đâu?

Theo một số lái xe của Xí nghiệp, trong các cung đường vận chuyển than, ngoài việc họ phải vận chuyển than từ kho than của Xí nghiệp (Sân Công nghiệp) ra Cảng để giao than cho Công ty Cảng, họ còn được yêu cầu chở than ra bãi 200. Còn than từ bãi 200 được bán cho ai, chở đi đâu nữa họ không hề hay biết. 

Chỉ trong một tháng, số lượng than báo cáo sai lệch đã lên tới 16.521 tấn, nếu tính theo giá thị trường (giá trung bình), số tiền nằm ngoài sổ sách đã lên tới trên 6,6 tỷ đồng.

Vậy số than thất thoát, nằm ngoài sổ sách báo cáo lên Tổng Cty của chỉ một xí nghiệp của ngành than thời gian qua là bao nhiêu?

Theo điều tra của Tiền Phong, không chỉ có sai lệch về số lượng than giao nộp Tổng Cty, mà ngay cả cung đường vận chuyển, khối lượng bốc dỡ đất đá cũng bị điều chỉnh.

 Theo Tiền Phong

http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/2009/09/869838/

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2009

Mở bể than 210 tỷ tấn, sụt lún là đáng lo ngại

Mặc dù lo ngại về môi trường, địa chất, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) vẫn tin rằng, có thể kiểm soát được những kết quả không mong muốn trong quá trình thử nghiệm. Nếu có ảnh hưởng nghiêm trọng về vấn đề sụt lún, đề án sẽ bị hủy bỏ.
>Năm 2010 khai thác thử nghiệm mỏ than sông Hồng

Xung quanh vấn đề khai thác mỏ than đồng bằng sông Hồng, ông Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng sông Hồng, chủ đầu tư các dự án năng lượng thuộc bể than đồng bằng sông Hồng (thuộc TKV) đã có buổi trao đổi đổi với VnExpress.net.

- Dự án thí điểm khai thác mỏ than đồng bằng sông Hồng được TKV triển khai đến đâu thưa ông?

- TKV dự kiến tiến hành thử nghiệm công nghệ tại 3 mỏ ở Hưng Yên và 1 mỏ ở Thái Bình. Hiện cả 4 dự án thí điểm vẫn đang chờ cấp phép của Bộ Tài nguyên Môi trường.

Bốn dự án thí điểm đều dùng hai loại hình công nghệ khai thác hầm lò phần nông (mức -450/-600 m), phần sâu (-600/-1.200 m) và khí hóa than ngầm nông (mức ---9=\']-[300/-450m) và sâu (-450/-900 m). Dự án thử nghiệm có chi phí khoảng 6,5 triệu USD. Trong đó hai đối tác nước ngoài là Australia và Nhật chịu 40%, TKV chịu 60%.

- TKV đánh giá thế nào về hiệu quả kinh tế của đề án này?

- Cả đề án có 11 dự án. Trong đó, chủ yếu là các dự án thăm dò và thử nghiệm. Hiện TKV mới chỉ lập đề án để xin chủ trương. Còn phải qua một loạt khâu thăm dò, thử nghiệm, lập dự án. Trong quá trình báo cáo khả thi, TKV mới đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án. Tuy nhiên, theo đánh giá sơ lược, mọi dự án đều có hiệu quả kinh tế xã hội trong trường hợp giá dầu thế giới lên 50 USD.

Ảnh: Nhật Minh
Ông Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng sông Hồng. Ảnh: Nhật Minh.

- Một đối tác Nhật là NEDO năm 1998-2001 đã rút lui sau khi thăm dò bể than sông Hồng. Vì sao TKV có thể tự tin để thực hiện đề án này?

- NEDO chưa bao giờ có ý định khai thác than mỏ sông Hồng. NEDO dùng vốn ODA để kiểm chứng việc phía Việt Nam nói sông Hồng có 210 tỷ tấn than có đúng hay không. Mục đích chính của họ là như thế. Họ bỏ ra 5 triệu USD và đã xác nhận là có than thật.

NEDO không phải là tổ chức khai thác và Nhật cũng không phải là một cường quốc khai thác than. Họ chưa đủ điều kiện đánh giá có nên khai thác than hay không. Nếu chỉ thử nghiệm 1 hoặc 2 dự án thì tỷ lệ thành công, thất bại là 50-50. Thử nghiệm càng nhiều xác suất thành công càng cao. Nếu thử nghiệm cả 4 dự án tỷ lệ thành công của mỏ than thử nghiệm sẽ tăng từ 50% lên đến 70%.

- Một số nhà khoa học lo ngại đồng bằng sông Hồng có địa chất phức tạp và chất lượng than nâu ở đây rất thấp. TKV đánh giá sao về điều này?

- Đúng là địa chất đồng bằng sông Hồng rất phức tạp, nhất là vấn đề đất và nước. Nước ở sông Hồng có nhiều nhưng không ở trong tầng chứa than. Cụ thể, ở tầng đệ tứ từ mặt đất xuống chiều sâu 150- 200 m rất nhiều nước nhưng lại không có vỉa than nào cả. Tầng neogen có hàng trăm vỉa than nhưng lại rất ít nước. Vấn đề là đừng để nước chảy từ tầng đệ tứ xuống neogen. Ngoài ra, đất đá ở sông Hồng rất mềm xốp khiến công tác đào bới dễ dàng nhưng khả năng chống giữ lò than lại rất khó. Ở Quảng Ninh khi đào lò, chúng ta chỉ chống hai bên nóc và hông. Nhưng ở sông Hồng, vừa phải chống trên nóc, hai bên hông lại và dưới nền.

Chất lượng than đồng bằng sông Hồng về mặt lý hóa có thể thấp hơn than Quảng Ninh. Nhưng than nâu đồng bằng sông Hồng dùng để phát điện và ngành công nghiệp hóa học thì thực chất than sông Hồng tốt hơn than Quảng Ninh rất nhiều.

Tác động tới môi trường có thể sẽ rất lớn. Ảnh: Hoàng Hà
Tác động tới môi trường có thể sẽ rất lớn. Ảnh: Hoàng Hà

- TKV nhận định thế nào trước lời cảnh báo của giới chuyên gia, rằng những tác động đến địa tầng, môi trường khu vực này có thể không nhìn thấy trong vài năm, mà sau hàng chục, thậm chí hàng trăm năm?

- Ảnh hưởng trong thời gian bao nhiêu năm vẫn có thể tính được. Không cần chờ đến 30 năm mà ngay trong giai đoạn thử nghiệm, nếu làm tốt chúng ta có thể lường trước được hậu quả. Mọi thứ đều phụ thuộc vào giai đoạn thử nghiệm. Nếu 30- 40 năm nữa nó mới ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng quá lớn, chúng ta có thể dừng lại dự án này vẫn chưa muộn.

Tôi cho rằng nếu đề án không thành công, chúng ta cũng có cơ sở khoa học để báo cáo Chính phủ, Quốc hội rằng, ở đồng bằng có mỏ than lớn nhưng chưa thể khai thác được. Để đáp ứng nhu cầu năng lượng của đất nước, Chính phủ phải có quyết sách khác như tích cực nhập khẩu than, phát triển nguồn năng lượng khác như phong điện, thủy điện, điện sóng biển khi sản lượng than Quảng Ninh đang có nguy cơ cạn kiệt.

- Vậy TKV dự kiến có biện pháp gì để khắc phục những nguy cơ đã đựơc cảnh báo này?

- 70% mỏ than Quảng Ninh dùng phương pháp khai thác lộ thiên. Và đây chính là nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường. Khác với Quảng Ninh, đồng bằng sông Hồng dùng công nghệ khai thác than hầm lò và khí hóa than dưới lòng đất. Hai công nghệ này ảnh hưởng đến môi trường rất ít.

Tuy nhiên, sụt lún là vấn đề đáng lo ngại. Cũng phải lưu ý rằng, chống sụt lún khác với việc xử lý hậu quả sụt lún. TKV đặc biệt lưu tâm đến vấn đề chống sụt. Để khắc phục tình trạng này, TKV tiến hành các thử nghiệm ở nhiều độ sâu khác nhau. Nếu không may xảy ra sụt lún, ở mức độ nào đó có thể lấy phù sa bồi đắp.

- TKV sẽ giải quyết thế nào trong trường hợp tập quán của 180.000 hộ dân ở khu vực đồng bằng sông Hồng bị xáo trộn?

- Trong giai đoạn thử nghiệm, chúng tôi dự kiến mượn 6 ha đất của người dân. Thời gian thử nghiệm chỉ trong vòng 6 tháng nhưng TKV dự kiến mượn đất trong 3 năm. Hơn 2 năm còn lại sẽ để cho đất "hồi lại" và người dân vẫn có thể canh tác. TKV sẽ trả chi phí cho người dân bằng số tiền họ thu được khi cấy lúa.

Khi dự án được triển khai chính thức, nhiều dự án nhiệt điện cùng khu công nghiệp khác như thủy tinh, sành sứ sẽ mọc lên. Tôi tin rằng GDP tỉnh Hưng Yên và Thái Bình sẽ tăng gấp nhiều lần. Đời sống của người dân có thể bị xáo trộn do chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh từ nông nghiệp sang công nghiệp.

- Đồng bằng sông Hồng là một trong hai vựa lúa của cả nước. TKV nghĩ sao về vấn đề an ninh lương thực tại đây?

- Giữa an ninh lương thực và an ninh năng lượng, tôi cho rằng an ninh năng lượng căng thẳng, gay cấn, bức xúc hơn rất nhiều. Hiện chúng ta đang xuất khẩu cả lương thực và năng lượng. Tuy nhiên, trong tương lai gần, ta sẽ phải nhập khẩu năng lượng.

Đề án này có thể ảnh hưởng đến an ninh lương thực nhưng không đáng kể và chưa bằng một sân golf. Nếu tính cả 11 dự án được triển khai, tổng số đất bị tối đa là 1.500 ha, vẫn chưa bằng diện tích bồi đắp 1.600 ha của tỉnh Nam Định.

Hoàng Lan - Ngọc Châu

http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2009/09/3BA13A5E/



Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

Chuyện TKV xây nhà máy điện…

SGTT - Nhiều nhà đầu tư lớn đã tích cực tham gia phát triển nguồn điện khá suôn sẻ trong những năm qua như tập đoàn Dầu khí, tổng công ty Sông Đà, tổng công ty Lắp máy Việt Nam… Nhưng với tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam – TKV, thì nhiều dự án triển khai bị chậm về tiến độ, trình tự thủ tục đầu tư sai sót cho thấy công tác quản lý, điều hành của tập đoàn này còn phải cải thiện rất nhiều.

Chậm từ 12 tháng đến 4 năm

Công trình nhà máy nhiệt điện của TKV tại Nông Sơn (Quảng Nam) có cả lao động Trung Quốc. Ảnh: CTV

Trước đây, với việc tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) bắt đầu xây dựng những nhà máy điện đầu tiên: nhiệt điện Cao Ngạn, nhiệt điện Na Dương… người ta đã hy vọng về một sự lớn mạnh của một nhà đầu tư có tên tuổi trên thị trường điện, giảm bớt vai trò độc quyền của tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Và quả thực, với hàng loạt các công trình điện đã và đang xây dựng hiện nay (16 dự án), TKV đang dần trở thành một nhà cung cấp nguồn điện có cỡ.

Cuối tuần trước, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức cho phép TKV thành lập tổng công ty điện lực riêng để tạo nguồn lực đầu tư, để dễ quy tụ, điều hành cho nhịp nhàng, thông suốt các dự án, nhà máy điện của tập đoàn này. Từ đây, vai trò cung ứng điện của TKV sẽ càng lớn. Nhưng chính trong lúc này, cần phải nhìn lại cách thức mà TKV đã triển khai các dự án điện. Có quá nhiều bài học nhưng dở nhiều hơn là hay trong cách TKV xây các nhà máy điện trong thời gian qua.

Một số công trình điện của TKV triển khai rất chậm so với yêu cầu, làm phát sinh lớn về chi phí và giảm hiệu quả đầu tư. Ví dụ như nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn, theo kiểm toán Nhà nước nêu trong báo cáo kiểm toán TKV và các đơn vị thành viên, gói thầu số 3 của dự án này triển khai chậm 12 tháng và làm tăng chi phí 59,4 tỉ đồng. Nhưng đến nay, TKV vẫn chưa xử phạt được nhà thầu HPE như quy định trong hợp đồng giữa hai bên (số tiền phạt khoảng 8,55 triệu USD) do HPE một mực cho rằng đó là lỗi của nhà thầu Việt Nam.

Nhưng kỷ lục phải nói là nhà máy nhiệt điện Na Dương, chậm tiến độ tới bốn năm. Hay nhà máy nhiệt điện Sơn Động (220MW), có tổng mức đầu tư lên tới trên 3.278 tỉ đồng, khởi công xây dựng từ năm 2005, mục tiêu đưa nhà máy vào vận hành năm 2007 nhưng đến nay mới hoàn tất khâu chạy thử. Nhà máy nhiệt điện Nông Sơn khởi công từ tháng 3.2008 nhưng đến nay, theo hợp đồng EPC thì nhà thầu cũng đã làm chậm tiến độ 12 tháng. Tiến độ hoàn thành dự án này có nhiều khả năng phải đẩy sang năm 2010.

Nhập máy Trung Quốc

Nhưng điều đáng nói hơn nữa là trong quá trình tổ chức đấu thầu, triển khai một số dự án nhà máy điện lớn, TKV để xảy ra một số sai phạm lớn mà cơ quan chức năng đã làm rõ và yêu cầu phải xử lý. Ví dụ như tại gói thầu số 3, dự án nhà máy nhiệt điện Na Dương, nhà thầu đã cung cấp sai xuất xứ thiết bị của máy tiện HKM-3 từ Nhật sang Hàn Quốc giá trị theo hợp đồng 39.660 USD và máy khoan từ Nhật sang Đài Loan giá trị theo hợp đồng 20.520 USD.

Tương tự như vậy, tại gói thầu số 3, dự án nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn, nhà thầu cũng cung cấp sai xuất xứ thiết bị: máy diesel lẽ ra phải nhập của Anh, Mỹ nhưng nhà thầu chuyển sang nhập máy của Trung Quốc, sáu loại quạt gió lò hơi khác theo hợp đồng phải là từ Anh, Đức, Mỹ… đã được đổi sang thiết bị của Trung Quốc. Có quạt gió thậm chí còn không có nhãn mác.

Một vụ đáng chú ý khác gần đây là việc đấu thầu gói thầu EPC dự án nhà máy nhiệt điện Mạo Khê (công suất 2 x 220MW). Việc TKV đã chọn liên danh nhà thầu KAIDI trúng thầu và loại nhà thầu Lilama (tổng công ty Lắp máy Việt Nam) đã gây nên nhiều hoài nghi về sự khách quan và trung thực của TKV trong việc xét thầu. Hai đơn vị tổng thầu này cùng chào một nhà cung cấp lò hơi (từ Foster Wheeler của Trung Quốc) và tua bin (từ SEC của Trung Quốc) nhưng công suất phát của các tổ máy lại chênh lệch nhau tới 7,9MW (Lilama công bố 220,098MW trong khi KAIDI lại công bố 227,949MW).

Cho dù TKV đã yêu cầu tư vấn tính toán kiểm tra lại và tư vấn cho rằng KAIDI chào đúng. Nhưng vẫn có ý kiến cho rằng TKV khuất tất vì chính nhà cung cấp thiết bị khẳng định trong mọi trường hợp, chỉ chịu trách nhiệm về thông số kỹ thuật do chính nhà cung cấp (SEC) đưa ra là công suất thô chỉ ở mức 220MW.

Có những thuận lợi lớn như độc quyền về tài nguyên (than), vốn và tài sản nhà nước giao cho tương đối lớn..., lẽ ra từ lâu TKV đã phải có một tổng công ty điện mạnh, sở hữu nhiều nhà máy lớn, cạnh tranh với EVN để hình thành một thị trường điện năng hiệu quả, cung ứng điện cho nền kinh tế. Đáng tiếc, tập đoàn này lại không tập trung dành nguồn than để làm nhà máy điện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý để đến nỗi, hiện giờ, tài nguyên than ngày càng cạn kiệt mà số nhà máy điện của TKV hoạt động thực sự hiệu quả mới đếm trên đầu ngón tay.

Mạnh Quân

Mở bể than 210 tỷ tấn: Hy vọng và lo lắng

(15:50 16/09/2009)

Lại thêm một dự án được dư luận đặc biệt quan tâm

Mạng VNN đưa Bản đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng của Tập đoàn CN Than - khoáng sản Việt Nam (TKV) đang khiến dư luận quan tâm đặc biệt. Theo tính toán của tập đoàn CN Than -Khoáng sản Việt Nam: Năm 2010,tổng nhu cầu than trong nước vào khoảng 25-26 triệu tấn, tổng lượng sản xuất đạt khoảng 45-47 triệu tấn thì Việt Nam vẫn có thể xuất khẩu tầm 20 triệu tấn. Lượng sản xuất, xuất khẩu sẽ phải giảm dần để đến năm 2012, sẽ chỉ còn khoảng 5 triệu tấn. Và đó cũng chính là lý do TKV đệ trình đề án xin mở cửa bể than đồng bằng sông Hồng.

Tuy nhiên giới khoa học đang quan ngại về tính khả thi của đề án, đặc biệt lo ngại về vấn đề môi trường nước, môi trường sống, về an ninh lương thực cũng như hiệu quả kinh tế.... Mạng VNN khởi đăng một loạt bài liên quan đến dự án bể than đồng bằng sông Hồng và ngay lập tức, nhiều nhà khoa học đã lên tiếng bày tỏ lo lắng.

 

Những phản biện ban đầu

Theo Website của Bộ Xây dựng: Bộ đã nêu rõ những quan ngại và đề nghị TKV phải xem xét kỹ hơn về các vấn đề: khu vực khai thác than phải không được phá vỡ những định hướng lớn về quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch đô thị; không ảnh hưởng đến diện tích đất trồng lúa, công nghệ khai thác không được ảnh hưởng đến đất nền vùng khai thác. Bộ Xây dựng cũng cho rằng, TKV phải tính được đến yếu tố tác động của xu hướng biến đổi khí hậu toàn cầu... Trong khi đó, bản phản biện của Liên hiệp Các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam cho rằng, đề án khai thác than ĐBSH "sơ sài, trùng lặp, thiếu cơ sở", thiếu báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và quá trình khai thác có thể làm nhiễm mặn mặt đất, kết hợp với việc sụt lún lan tỏa theo bề mặt, biến đồng bằng thành hồ chứa nước mặn, ảnh hưởng đến môi trường mưu sinh của con người và động thực vật nơi đây.

 

Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam sẽ thật thận trọng

Trả lời các ý kiến phản biện trên Mạng VNN, ông Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng khẳng định: Vì điều kiện địa chất - mỏ của bể than đồng bằng sông Hồng rất đa dạng và phức tạp, nên TKV phải thử nghiệm công nghệ. Ở đây có 2 công nghệ cần thử nghiệm là khai thác hầm lò (UCM) và khí hóa than ngầm dưới lòng đất (UCG). Chỉ hai công nghệ này may ra không làm lún sụt mặt đất, không chiếm đất canh tác nông nghiệp, không phải di dời dân... như yêu cầu của chính TKV đề ra. Các vỉa than nằm cách mặt đất từ 150m đến hàng nghìn mét. Với các độ sâu khác nhau, các công nghệ UCM và UCG đều có các giải pháp khác nhau hoàn toàn và mức độ ảnh hưởng tới mặt đất cũng rất khác nhau. Để có hy vọng thành công, TKV đã đề xuất thử nghiệm công nghệ ở các độ sâu khác nhau cho cả hai công nghệ UCG và UCM. Như vậy, cần thử nghiệm 4 phương án công nghệ và cả 4 phương án này đều không có tiền lệ ở VN.

P.V - H.N


Mở bể than: Chỉ khai thác khi đã duyệt trữ lượng

18/09/2009 18:56:59

Theo thông báo của Văn phòng Chính phủ tại Công văn số 6442/VPCP-KTN, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa có ý kiến chỉ đạo về việc triển khai Dự án thử nghiệm khí hóa than ngầm dưới lòng đất (UCG) tại tỉnh Quảng Ninh và Thái Bình của Công ty TNHH Đông Dương.

Phó Thủ tướng giao các Bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các đơn vị có Dự án thử nghiệm khí hóa than ngầm hoàn chỉnh thủ tục và cấp giấy phép thăm dò mỏ than, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Phó Thủ tướng yêu cầu các đơn vị được cấp phép thăm dò mỏ than phải báo cáo kết quả và được Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản phê duyệt. Việc khai thác than để thử nghiệm công nghệ chỉ được thực hiện sau khi trữ lượng được duyệt.

(Theo Cổng TTĐT Chính phủ)

http://bee.net.vn/channel/1987/2009/09/1721384/

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009

Khí hóa than chưa hẳn đã an toàn!

18/09/2009 05:50 (GMT + 7)
Khoảng không tạo nên từ quá trình khí hóa than dưới lòng đất UCG có thể khiến cho lớp đất trên bề mặt bị sụt, lún. Song hiện tượng này sẽ bớt lo ngại hơn nếu các vỉa than nằm sâu trong lòng đất.

Trữ lượng than trên toàn thế giới vô cùng dồi dào. Nhưng nếu như không có các biện pháp làm than sạch hơn và rẻ hơn - có thể biến đổi than thành khí ga hoặc khí đốt hóa lỏng, than dường nhưng khó trở thành một nguồn thay thế nguồn dầu và khí ga tự nhiên đang cạn dần. Khai thác than là một công việc nguy hiểm. Đốt than gây ô nhiễm. Mặt khác, khối lượng lớn than ở quá sâu trong lòng đất hoặc có chất lượng quá thấp rất khó có thể khai thác một cách hợp lý.

Bản đồ các địa điểm khai thác than bằng công nghệ UCG, bao gồm cả những khu
vực đã được lập kế hoạch khai thác và các khu vực thử nghiệm trước. Các địa điểm
được đánh dấu là Centralia, Washington, Hoe Creek, Wyoming (Mỹ); Chinchilla,
Australia; và Angren, Uzbekistan - nơi có một nhà máy khai thác UCG đã hoạt động
được 50 năm. Các khu vực màu xám đánh dấu những khu vực có tiềm năng lưu trữ
khí carbon địa chất.

Ngày nay, chưa đầy 1/6 lượng than trên thế giới có thể sử dụng được một cách kinh tế. Khai thác than bằng công nghệ khí hóa dưới lòng đất (UCG) - biến than thành chất khí trong lòng đất - về cơ bản có thể giúp khai thác thêm trữ lượng than thích hợp và biến than trở thành một loại nguyên liệu sạch và tiết kiệm.

Trong thời kỳ đầu của UCG, công nghệ này không mấy được tin tưởng tại Mỹ. Cách thức khai thác này đã sản sinh ra một lượng khí đốt kém chất lượng kèm theo quá nhiều khí hydro. Chính vì vậy, công nghệ này bị xem như một hiểm họa môi trường. Nhưng giờ đây, các nước giàu trữ lượng than đang nghĩ đến việc thay thế lượng dầu nhập khẩu bằng các nguồn năng lượng an toàn ngay tại nước mình, sản xuất khí đốt từ hydro, và tìm kiếm các biện pháp để giảm thiểu hiệu ứng nhà kính. Họ trở lại với UCG và khai thác những tiềm năng của công nghệ này.

Tại Mỹ, than đá cung cấp khoảng 50% điện năng trên toàn quốc, bởi vì đây là nguồn nhiên liệu rẻ nhất. Than đá có thể được khí hóa hoặc hóa lỏng để sản xuất nhiên liệu cho ngành vận tải, khí ga tự nhiên, hoặc nguyên liệu để chế biến. Việc chuyển đổi từ than đá-thành-chất-khí và than đá thành-chất-lỏng sẽ trở nên phổ biến.

Ứng dụng công nghệ UCG được cải tiến để khí hóa than đá ở dưới các tầng sâu, thưa thớt có thể cho phép khai thác trữ lượng than ngày càng lớn hơn. Than đá có thể được chuyển đổi thành chất khí với nhiều mục đích sử dụng khác nhau, và đặc biệt hạn chế quá trình giải phóng khí sulfur, nitrous oxides, thủy ngân. "UCG có thể giúp tăng trữ lượng than khai thác được tại Mỹ lên tới 300-400%" - Julio Friedmann, người đứng đầu Chương trình quản lý Carbon của công ty Livermore cho biết. Một lợi ích khác của UCG là lượng khí hydro được dùng để sản xuất một nửa tổng sản lượng khí đốt.

Với quá trình đốt cháy khí hydrocarbon, UCG sản sinh ra lượng carbon dioxide (CO2). Nhưng, tương ứng với các khu vực có khả năng triển khai công nghệ này là những địa điểm có có thể cô lập được một lượng vô cùng lớn khí CO2 trong quá trình hình thành địa chất dưới lòng đất. UCG cũng tăng khả năng lưu trữ các lượng khí CO2 trong các chính các vỉa than. Lượng khí thoát ra cùng lúc đó có thể được hút ra khỏi lòng đất và những phụ phẩm sẽ được tách ra. Khí CO2 sau đó có thể được đưa lại xuống các lỗ trống lòng đất gần đó.

Mô hình khai thác than theo công nghệ khí hóa dưới lòng đất.

Ưu thế của UCG

UCG có nhiều ưu thế, cả về tài chính và môi trường, hơn hẳn so với các phương pháp khai thác than truyền thống hoặc khai thác bằng khí hóa thông thường (trên mặt đất).

* Lợi ích tài chính

Nguồn vốn và chi phí cho UCG thấp hơn so với phương pháp khai thác truyền thống

Giảm chi phí xây dựng nhà máy - Không áp dụng công nghệ khí hóa trên mặt đất (nên không thải CO2 ra môi trường)

Các phụ phẩm được dẫn vào đường ống trực tiếp, giảm chi phí xây dựng hạ tầng như đường xá...

Chi phí hoàn thổ thấp hơn do chất thải rắn được giữ lại trong lòng đất

Sản xuất các chất hóa học, như phân bón, ammonia (dùng trong tủ lạnh và làm chất nổ)

Tổng hợp nên các nhiên liệu lỏng với giá vào khoảng 20USD/ thùng

* Lợi ích đối với môi trường

UCG có thể không cần tới nguồn nước bên ngoài để hoạt động

Hạn chế giải phóng khí thải ra môi trường, vì khí hóa trong UCG được thực hiện trong lòng đất, theo đó sẽ giảm thiểu chi phí quản lý môi trường.

Tỷ lệ các hạt phát sinh chỉ bằng một nửa so với khai thác trên mặt đất, vì chúng được giữ lại trong lòng đất.

Tránh được nhiều tác động lên bề mặt như bụi, tiếng ồn và cảnh quan.

Ít nguy cơ ô nhiễm nguồn nước trên bề mặt

Hạn chế giải phóng khí mêtan - khí tại các vỉa than được thu lại trong quá trình khai thác, nên không bị lẫn vào không khí như trong các công nghệ khai thác thông thường.

Khu vực khai thác không bị bẩn

Không phải đãi than tại khu vực khai thác

Phần lớn bề mặt ở khu vực khai thác ít có nguy cơ bỏ hoang

UCG cũng gây ô nhiễm nếu....

Một khu khai thác thử nghiệm sẽ đưa ra các dữ liệu quan trọng về các mô hình môi trường. Mặc dù hầu hết các thử nghiệm UCG hồi thập kỷ 70 tại Hoe Creek, Wyoming không gây để lại các ảnh hưởng đáng kể lên môi trường, nhưng tại khu thử nghiệm ở Carbon County, Wyoming (Mỹ) lại làm nguồn nước ngầm bị ô nhiễm.

Tại Hoe Creek, quá trình đốt nóng trong các hang động với áp suất cao hơn so với các vỉa đá phụ cận đẩy các chất gây ô nhiễm ra khỏi các hang động, đưa benzene, carcinogen (một loại chất gây ung thư) vào dòng nước ngầm. Quá trình ô nhiễm tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc để hoàn thổ tại các khu vực đã qua sử dụng.

Mô hình nước ngầm được sử dụng để mô phỏng kịch bản giả thuyết các chất độc di chuyển trong
 lớp ngậm nước có bề mặt đồng nhất - bên trên vỉa than khai thác theo công nghệ khí hóa. 
Mô hình kết hợp dòng chảy, sức nóng, khối lượng và mật độ để tính toán những thay đổi trong
 phân bổ về thời gian và không gian mà các chất độc sinh ra do quá trình khí hóa.
 Trong trường
 hợp đơn giản này, sức nóng và các nguồn chất độc được mô hình hóa tại một điểm đốt, và các
 tỉ lệ lưu lượng nước ngầm được tối thiểu hóa để làm nổi bật hiệu ứng nổi trên chùm chất độc.
Các quá trình chất độc tích tụ với nhau qua thời gian đều được hiển thị rõ, từ bên trái phía trên
xuống bên phải phía dưới (màu tía là thấp nhất, đỏ-cam là cao nhất)


Kể từ các cuộc thí nghiệm phát hiện ra các vấn đề trên hồi thập kỷ 70, các nhà khoa học môi trường đã nghiên cứu rất nhiều về các hoạt động và các dạng hợp chất gây ô nhiễm do UCG tạo nên, cũng như quá trình ô nhiễm và đánh giá hiểm họa đối với môi trường. Một số biện pháp phải được tiến hành để giảm thiểu ô nhiễm. Một là, cân đối các điều kiện để giảm thiểu các chất độc hại di chuyển từ các khu vực bị đốt với áp lực quá cao. Một biện pháp khác là, khi định vị khu vực khai thác theo công nghệ khí hóa, phải chọn những nơi có địa chất tự nhiên bảo đảm cho việc cô lập khu vực bị đốt khỏi các vỉa đá phụ cận.

Điều cốt yếu là phải cô lập khu vực khai thác khỏi các nguồn nước ngầm hiện có hoặc sẽ hình thành sau đó và. Đồng thời hiểu rõ UCG tác động như thế nào lên địa chất thủy văn trong vùng. Trong dự án Chinchilla, yếu tố này đã đem lại hiệu quả đáng kể. "Chinchilla là một ví dụ điển hình về cách thức xây dựng một khu khai thác và vận hành nhà máy UCG" - Friedman cho biết. Tại đây, các chất độc đã được giữ lại trong lòng đất, không thể bay ra khỏi các lỗ hổng.

Nhóm của nhà hóa học, khoa học môi trường của Anh Elizabeth Burton đã thiết kế các mô hình chi tiết đầu tiên minh họa lưu lượng và sự di chuyển của chất độc trong quá trình vận hành UCG. "Các tiêu chuẩn của mô hình thủy học được sử dụng cho việc đánh giá về môi trường không bao quát được tác động toàn diện của hoạt động UCG" - bà Burton nói. UCG đòi hỏi sự mô phỏng hợp nhất để có thể nắm bắt được các quá trình địa hóa học, địa cơ học, địa thủy học phức tạp trong suốt quá trình đốt cháy.

Một lo ngại nữa về mặt môi trường là khoảng không tạo nên từ quá trình khí hóa có thể khiến cho lớp đất trên bề mặt bị sụt, lún. Sụt, lún là vấn đề rất đáng lo ngại nếu như quá trình khí hóa diễn ra ở một vỉa than nông, sát với mặt đất. Hiện tượng này sẽ bớt lo ngại hơn nếu như các vỉa than nằm sâu trong lòng đất..

Tiềm năng của UCG sau khi cải tiến đã được công nhận trên quy mô toàn cầu, nhưng tương lai "chín muồi" của công nghệ này vẫn phụ thuộc rất nhiều vào thành công của các thử nghiệm đang được tiến hành.

Để thành công, phải có các công cụ phù hợp để ước định được tính bền vững của nền kinh tế một cách đúng đắn và các hệ quả đối với môi trường khi sử dụng UCG trong mọi giai đoạn, từ khi lên kế hoạch cho tới khi khai thác và hoàn thổ.

  • Thu Lượng (tổng hợp)
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/8012/index.aspx

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Chủ tịch TKV: Sợ bị kỷ luật, tôi đã không làm

Với vẻ mặt nhâng nhâng của kẻ không biết sợ là gì. Mà sợ cái gì chứ, nhớ năm 2001 ổng cũng bị kỷ luật về Đảng khi đó ổng làm Giám đốc Tổng công ty Than Việt Nam nhưng sau khi kỷ luật ông nhảy tót lên làm chủ tịch Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Vậy nên nếu lần kỷ luật này diễn ra thì ông sẽ nhảy tiếp làm gì nhỉ?

Chủ tịch TKV: Sợ bị kỷ luật, tôi đã không làm

Cập nhật lúc 11:52, Thứ Sáu, 11/09/2009 (GMT+7)
,

Hiếm có trường hợp nào như ông Đoàn Văn Kiển, trong vòng tám năm trên cương vị Tổng giám đốc và nay là Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp Than & Khoáng sản Việt Nam (TKV), hai lần bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng.

Chiều muộn ngày 9/9, tiếp phóng viên Tiền Phong hai tiếng tại trụ sở tập đoàn, ông không có vẻ gì của người vừa tiếp nhận quyết định kỷ luật của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Kỷ luật thì tôi phải chịu

- Thưa ông, ở cương vị Tổng giám đốc, sau này là Chủ tịch TKV, trong thời gian ấy, cơ quan chức năng thực hiện khá nhiều cuộc thanh, kiểm tra tập đoàn. Và lần nào, họ cũng chỉ ra sai phạm, trong đó có phần trách nhiệm của ông?

Anh hỏi hay nhỉ? Tôi nói thế này. Thanh tra, kiểm tra là việc làm cần thiết. Nếu làm tốt nó sẽ giúp doanh nghiệp thấy được những sai sót, lỗ hổng trong quản lý của mình để sửa chữa, khắc phục. Tôi rất ủng hộ chuyện đó.

Mô tả ảnh.
Ông Đoàn Văn Kiển (Ảnh: Vietinfo)

Tuy nhiên, nói là có quá nhiều sai phạm thì không đúng. Vì như lần thanh tra năm 1999-2000, khi đó do lượng than sản xuất ra nhiều, nhưng không bán được do suy thoái kinh tế (khủng hoảng kinh tế khu vực châu Á), tiền một đống đấy mà cứ làm ra tiếp, thì lấy tiền đâu chi phí, nên tôi quyết định tạm thời giảm sản lượng than.

Lúc đó bảo tôi ngừng sản xuất, nên ảnh hưởng đến kinh tế và kỷ luật. Mà kỷ luật thì tôi chấp nhận rồi. Nhưng đúng là bây giờ nhìn lại thì có đáng bị kỷ luật không?

Hay như chuyện nhà máy điện Na Dương, tố cáo có tham nhũng, tiêu cực. Thanh tra vào kiểm tra cũng kết luận gói thầu này, gói thầu kia có chuyện này nọ. Nhưng cuối cùng Bộ Công an kết luận không phát hiện ra tham nhũng.

Bản chất việc đó là do văn tự mà ra, bộ này ý kiến thế này, bộ kia thế khác. Người nào thiện chí thì không sao. Không thiện chí thì họ bắt lỗi. Mà bắt lỗi thì tôi chịu. Trong quá trình vận hành cơ chế của nhà nước, đúng là có chuyện như vậy.

Chuyện tôi quyết định mua mấy chục chiếc ôtô tải của Hàn Quốc, kết luận tôi mua không qua đấu thầu là sai. Tôi nói thật, chuyến đi Hàn Quốc đó tôi tóm được mấy chục chiếc ôtô rẻ hơn hàng chục nghìn USD.

Khi đó tôi đi Hàn Quốc, vào nhà máy Hyundai thấy xe bày la liệt, giá rẻ trong khi họ chào giá bên này cao hơn. Khi sang, tôi yêu cầu phải hạ giá nữa, nếu không tôi không mua. Cuối cùng họ phải chào lại, giảm 3.000 USD/xe. Trong khi cũng chiếc xe đó bốn tháng trước là hơn 40.000 USD/chiếc. Và chỉ hai tháng sau loại xe đó lại tăng giá trên 40.000 USD/chiếc.

Cơ hội như thế, mình là nhà kinh doanh mà lại không quyết định là lỡ cơ hội. Mà chớp cơ hội thì làm sao tổ chức đấu thầu được. Nên so với quy định thì mình sai, thanh tra kết luận tôi sai và tôi cũng chấp nhận. Nhưng bản chất của kinh doanh là hướng đến lợi nhuận, mà muốn có lợi nhuận phải biết chớp cơ hội.

- Nhưng thưa ông, nếu không qua đấu thầu dễ phát sinh móc ngoặc, tham nhũng?

Anh nói cũng có cái đúng, nhưng tôi nói thật là đấu thầu mà không xảy ra tiêu cực được à? Người ta có thông thầu được không? Họ làm được hết. Tất cả phụ thuộc vào trái tim, trách nhiệm của những người hành nghề. Đấu thầu về mặt luật pháp là rất đúng, nhưng người ta vẫn thông thầu. Bảy công ty tham gia đấu thầu nhưng thực chất chỉ có một công ty, là chuyện bình thường. Cho nên bản chất vấn đề vẫn là trách nhiệm, đạo đức cán bộ.

- Tám năm hai lần bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng, bây giờ bình tĩnh soi xét lại, ông có nghĩ ở cương vị Tổng giám đốc, sau này là Chủ tịch tập đoàn, ông đã mặc cái áo quá rộng?

Không! Không phải. Thực ra thì Đảng và Chính phủ cho thành lập tập đoàn là cần thiết. Chỉ có điều là phải đề cao trách nhiệm của những người điều hành. Nếu mọi người đều làm việc với thái độ và tinh thần trách nhiệm cao, đừng vì cái lợi của cá nhân mình thì mọi sự sẽ tốt.

Nhưng cũng phải nói là trong cuộc đời một con người thường có 1/3 cái này, 1/3 cái kia. Đó mới là vấn đề. Cuộc sống là như thế. Nếu chọn được cán bộ tốt, cộng cơ chế hợp lý thì mọi thứ sẽ tốt hơn.

Mô tả ảnh.
Khai thác than trái phép ở KM6, thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh. (Ảnh: VNN)

Lịch sử công bằng

- Ý ông muốn nói trong cơ chế hiện nay, là một chủ doanh nghiệp nhà nước mà muốn kinh doanh thực thụ như một doanh nghiệp tư nhân thì khó mà không mắc sai phạm?

Cũng có ý đó. Bởi trong cơ chế của mình nhiều cái ràng buộc, doanh nghiệp Nhà nước không phải muốn làm gì thì làm, không phải cái gì mình cũng tự quyết được.

Theo tôi, Nhà nước chỉ nên đề ra tiêu chí, các doanh nghiệp chỉ cần thực hiện được mục tiêu kinh tế mà chủ sở hữu giao là được, chứ không nên quá tiểu tiết.

Ví dụ như, với TKV, chỉ cần giao mục tiêu phải sản xuất bao nhiêu triệu tấn than, chi phí ra sao, lợi nhuận như thế nào thôi. Còn những chuyện khác để cho doanh nghiệp tự quyết, và các cơ quan cũng phải thống nhất theo tiêu chí đó.

Ngay chúng tôi cũng đặt ra tiêu chí cho các doanh nghiệp thành viên, nếu không đạt được thì chúng tôi thay giám đốc. Ông không có tham nhũng, tiêu cực gì, nhưng không hoàn thành nhiệm vụ là có thể thay. Như thế mới thúc đẩy được sự phát triển của doanh nghiệp.

- Ông có băn khoăn gì không, khi mà chỉ trong tám năm hai lần bị kỷ luật về Đảng?

Báo anh đã đưa đấy... Cái đó, tôi nói thật, lịch sử rất công bằng. Xã hội nhìn nhận việc đó như thế nào, đặc biệt, nếu anh muốn biết rõ cái đó, giả sử có cấp nào đó làm một cuộc điều tra những người mà tôi phải chịu trách nhiệm với họ, xem họ đánh giá tôi thế nào. Như thế là công bằng nhất, đúng không?

Đằng sau ban lãnh đạo tập đoàn này là hơn 12 vạn lao động ngành than, trong đó có 25 ngàn đảng viên ở khoảng 90 đơn vị thành viên. Giả sử để các cấp ủy đảng ở các đơn vị đó phát biểu, công đoàn phát biểu xem hoạt động của ban lãnh đạo, trong đó có cá nhân tôi có ích gì hay không có ích gì? Làm lợi hay gây thiệt hại, chắc là bức tranh nó sẽ rõ. Còn để tự tôi nói ra thì nó không khách quan.

Còn tôi nói thật với anh, ở đời, xử lý có cái đúng, có lúc đúng, nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Và để khách quan nhìn nhận, những hoạt động của ban lãnh đạo chúng tôi, trong nội bộ chúng tôi, bằng đấy con người, bằng đấy tổ chức Đảng người ta biết hết.

Kỷ luật: Nặng và nhẹ

- Thưa ông, ông nói là như vậy, nhưng khi xem xét kỷ luật ông, có ý kiến cho rằng với những sai phạm ấy, việc xử lý kỷ luật cảnh cáo là nhẹ. Chỉ riêng việc ký hợp đồng cho Công ty Cổ phần Phát triển Công nghiệp Quảng Ninh khai thác sít đã gây thiệt hại cho nhà nước?

Đấy là tùy sự nhìn nhận của mỗi người. Cả ban lãnh đạo của tôi, Đảng ủy tập đoàn có 15 người, người ta đánh giá đó là một hợp đồng có lợi cho TKV. Nhưng người ta chẻ ra thì nói tôi làm sai.

Theo quyết định của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Kiển bị kỷ luật do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, trực tiếp ký quyết định hoặc đề nghị cấp dưới ký quyết định cho Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại & Dịch vụ khai thác than không có giấy phép trong khu vực ranh giới quản lý của các mỏ thuộc TKV;

Ông Kiển còn phải chịu trách nhiệm buông lỏng quản lý, thiếu chặt chẽ trong việc quản lý, khai thác và quản lý hàng hóa trong quá trình vận chuyển tiêu thụ, dẫn tới tình trạng khai thác than trái phép trong thời gian dài.

* Theo kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước mới đây, trong hoạt động mua sắm, đầu tư xây dựng, TKV vẫn có nhiều sai phạm như chỉ định thầu không đúng quy định 99 gói thầu với giá trị 1.690 tỷ đồng; xét thầu không đúng nhiều gói thầu khác; nghiệm thu, quyết toán tăng không đúng tại tám dự án với số tiền trên 2,1 tỷ đồng…

Đây là hợp đồng tôi bán sít thải để họ san lấp lấn biển, lấp mặt bằng mà mặt bằng đó lại của tập đoàn. Xét về kinh doanh, đây là cơ hội.

Vì cái sít thải này trước đây bị bỏ đi, nay họ mua sau đó sàng lại để lấy than, sít bỏ đi họ đổ san mặt bằng cho mình. Nhưng Ủy ban Kiểm tra Trung ương chẻ ra, nói, tại thời điểm tôi ký hợp đồng bán sít thải đó (năm 2005), thì mặt bằng 84 ha lấn biển chưa được tỉnh Quảng Ninh đồng ý.

Họ nói, tôi vi phạm Nghị định 16, chưa được tỉnh đồng ý đã ký hợp đồng với công ty kia để san lấp. Nhưng tôi là nhà kinh doanh, tôi phải chớp cơ hội ấy chứ. Sau đó tôi cùng công ty kia làm thủ tục báo cáo lên tỉnh. Và đến 2006, tỉnh Quảng Ninh đồng ý giao lại diện tích ấy cho TKV để sử dụng.

Thứ hai, họ nói công ty đó không có giấy phép kinh doanh than. Đích thân tôi kiểm tra thì công ty này có giấy phép.

- Ông nói bán sít, nhưng, sau khi sàng lọc lại từ sít, công ty đó thu được cả chục triệu tấn than, thưa ông?

Chỉ có hai triệu tấn thôi. Mà cái đó đâu phải là than. Họ chỉ lọc được ít than kém chất lượng. Cái đó ngày xưa là mình bỏ đi. Nếu tôi biết thế này thì cứ bỏ đi thì chẳng sao. Cho nên người trong ngành than họ nhìn nhận chuyện đó khác.

- Nhưng sao lúc đó ông không cho đấu thầu bán sít, để đảm bảo khách quan?

Tôi nói là, tại thời điểm đó, công ty này đã có sẵn một dây chuyển tải sít ở mặt bằng đó rồi. Lúc đó có mời thì cũng chẳng có ai vào mà đấu thầu. Cái này là cái mình được thêm, chẳng mất gì cả. Đây cũng là bài học để rút kinh nghiệm sau này.

- Nếu bị kỷ luật như thế là oan, sao ông không khiếu nại?

Chuyện ấy nói vậy thôi, chứ không phải dễ.

- Như ông nói, trong việc làm khiến ông bị kỷ luật chủ yếu do sai sót mang tính thủ tục, mà không có sai phạm về kinh tế. Bây giờ, nếu được làm lại, ông có làm như vậy nữa không?

Có những cái tôi vẫn phải quyết, tất nhiên mình sẽ tỉnh táo hơn. Vì có những cơ hội đến mình không quyết thì mất cơ hội, tiếc lắm...

- Ông không sợ bị kỷ luật sao?

Nếu sợ bị kỷ luật tôi đã không làm. Vì những cái đó tôi không làm riêng cho tôi, tôi không khác gì một anh sĩ quan ngoài chiến trường, có những cái phải tự quyết định thôi. Tất nhiên cũng phải chú trọng việc báo cáo, tránh được chuyện này, chuyện kia càng nhiều càng tốt.

(Theo Tiền Phong)

http://vietnamnet.vn/kinhte/kinhdoanh/2009/09/868011/

TKV lại đòi tái xuất than, 870 tấn than lậu bị bắt!

Cập nhật lúc 07:38, Thứ Sáu, 01/08/2008 (GMT+7)
,

Khoảng 870 tấn than cám đang được vận chuyển trên 12 tàu vỏ gỗ để đi tiêu thụ trái phép đã bị các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh phát hiện, bắt giữ vào ngày 29/7.

Than lậu thu giữ tại Quảng Ninh. Ảnh TPO.
TTXVN ngày 30/7 thông tin cụ thể: 6 tàu đang vận chuyển khoảng 400 tấn than cám từ khu vực biển Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả đi thị xã  Móng Cái đã bị bắt giữ. 6 tàu còn lại với 470 tấn than cám 5, 6A và 6B  bị bắt giữ trước đó tại khu vực cửa Bò vàng trên biển (giáp ranh giữa huyện Vân Đồn và Tiên Yên).

Trên tuyến quốc lộ 18A đoạn chạy qua thị xã Cẩm Phả, Đội QLTT số 3 đã kiểm tra bắt giữ 3 xe ô tô tải đang vận chuyển 48 tấn than cục các loại đi tiêu thụ trái phép.

Trong một diễn biến khác, TKV lại vừa có công văn đề nghị với UBND tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan quản lý nhà nước cho phép tái xuất than qua cảng Vạn Gia.

SGGP ngày 30/7 thông tin thêm: TKV cho rằng, vận chuyển than xuất khẩu theo đường biển Vạn Gia thì có thể tận dụng các tàu nhỏ, chi phí thấp và hiệu quả hơn dùng tàu lớn, tận thu được than mót của người dân. Mặt khác, bán than theo "tiểu ngạch" sẽ được giá hơn bán theo đường chính ngạch.

Trước đó, vào tháng 5/2008, lực lượng liên ngành của tỉnh Quảng Ninh đã kiểm tra, rà soát và phát hiện 360.000 tấn than lậu (với tổng trị giá lên tới 120 tỷ đồng) ở khu vực cảng KM 6 thị xã Cẩm Phả.

Tháng 4/2007, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh cũng đã tạm giữ 104 tàu vận chuyển than trái phép với số lượng trên 80.000 tấn than.

Trước tình hình xuất khẩu than lậu diễn biến phức tạp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ thị từ ngày 1/6/2008, chấm dứt toàn bộ hoạt động xuất khẩu than tiểu ngạch qua cửa khẩu cảng Vạn Gia (Móng Cái - Quảng Ninh). Chỉ còn một hoạt động xuất khẩu duy nhất là thông qua đường chính ngạch do Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) đảm nhận.

  • Hoàng Hạnh (tổng hợp)
http://www.vietnamnet.vn/xahoi/2008/08/796594/

Tiếp tục thu giữ hàng nghìn tấn than tại Quảng Ninh

Cập nhật lúc 10:23, Thứ Năm, 24/04/2008 (GMT+7)
,

23/4, Công an thị xã Cẩm Phả, Công an thị xã Uông Bí và Phòng CSGT tỉnh Quảng Ninh đã thu giữ hơn 100 tấn than tại những điểm dân cư có lò than thổ phỉ và sáu ôtô đang vận chuyển than trên đường.

>>Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh bị "cai than" dọa ám sát 

Mô tả ảnh.
Thu gom than trái phép ở Quảng Ninh. Ảnh: TPO

Tại huyện Đông Triều, công an đã thu hơn 1.000 tấn than tại một địa điểm chứa than của một cai than tư nhân.

Theo Tuổi trẻ (ra ngày 24/4), Công an tỉnh Quảng Ninh cho biết hôm 23/4, cơ quan điều tra công an tỉnh đã khởi tố ba vụ án về các hành vi "tàng trữ, vận chuyển, lưu hành giấy tờ có giá giả".

Vụ thứ nhất, cơ quan điều tra xác minh Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Bình Tiến xuất 11 hóa đơn bán 11.338 tấn than với số tiền hơn 6,2 tỉ đồng. Theo tài liệu thu giữ được, giám đốc công ty này là Phạm Văn Duy (27 tuổi, trú tại An Dương, Hải Phòng) nhưng qua điều tra Duy hiện đang làm thợ xây. Tiếp tục xác minh công ty, cơ quan công an phát hiện đơn vị này không có văn phòng, không có bến bãi như trong hợp đồng xuất than. Cơ quan công an đã làm rõ công ty này mua năm quyển hóa đơn giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế huyện An Lão (Hải Phòng) để sử dụng.

Tương tự, cơ quan công an xác minh các hóa đơn bán hàng của Công ty TNHH một thành viên vận tải Minh Ngọc bán than cho Công ty cổ phần thương mại vận tải 479 (Hải Phòng) với số lượng 12.859 tấn than, trị giá trên 2 tỉ đồng. Công ty Minh Ngọc do Nguyễn Thị Ngọc (47 tuổi, trú tại Q.Hồng Bàng, Hải Phòng) làm giám đốc nhưng không lập văn phòng, không sử dụng bến bãi tại địa chỉ ghi trong hợp đồng và không thanh toán tiền cho chủ bến. Do đó, cơ quan điều tra xác định việc lập hợp đồng và hóa đơn của công ty là giả mạo giấy tờ. Xác minh nguồn gốc số hóa đơn thu giữ được, cơ quan điều tra xác định công ty này cũng mua năm quyển hóa đơn tại Chi cục Thuế huyện An Lão (Hải Phòng) để sử dụng vào hoạt động kinh doanh than.

Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng xác định một doanh nghiệp khác kinh doanh than, có hóa đơn nhưng giám đốc thì đang trong trại cai nghiện. Cả ba vụ án đang được cơ quan công an tích cực điều tra.

Trong chiến dịch triệt phá than thổ phỉ và xuất lậu than vừa qua, các cơ quan chức năng đã bắt giữ 105 tàu than với sản lượng lên đến trên 10.000 tấn.

Tỉnh Quảng Ninh cũng đã thành lập 4 đoàn công tác về 4 địa phương là Uông Bí, Đông Triều, Hạ Long và Cẩm Phả để rà soát toàn bộ hoạt động khai thác than cũng như các tàu vận chuyển than.

  • Hồng Ninh (tổng hợp)
http://www.vietnamnet.vn/xahoi/2008/04/779981/

Em trai Tổng Giám đốc TKV giải trình về 360.000 tấn than

Cập nhật lúc 10:21, Thứ Hai, 19/05/2008 (GMT+7)
,

Dự kiến hôm nay (19/5), Cơ quan chức năng thị xã Cẩm Phả sẽ mời ông Đặng Thành Long, giám đốc Công ty TNHH Hải Đăng lên đối chất, giải trình nguồn gốc của hơn 360.000 tấn than mà Công ty này đang lưu giữ.

>>Lại phát hiện 360.000 tấn than lậu tại Quảng Ninh!

Mô tả ảnh.
Tàu chở than lậu đang bị giữ tại Hải đội 2 BĐBP, Quảng Ninh. Ảnh: TP
Thông tin này được báo Pháp luật TP.HCM và báo Tiền Phong ra ngày 19/5 cùng ngày xác nhận.

Được biết, ông Long là em trai ông Đặng Hải - Tổng Giám đốc Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam.

Trước đó, Công an tỉnh Quảng Ninh vừa khởi tố Nguyễn Trọng Thủy và ông Nguyễn Văn Thơ về tội buôn lậu than. Được biết, Thủy đã tự tay làm giấy tờ giả cho hai con tàu BN 5099, HĐ 1385 chở than lậu và trực tiếp áp tải hàng. Thơ là chủ khối lượng than trên tàu BN 0359 và trực tiếp làm giấy tờ giả.

Đây là các tàu nằm trong số hơn 100 tàu than bị bắt giữ ngày 8 và 9/4 vừa qua.

Hiện vụ xuất lậu than ở Quảng Ninh đã có 11 người bị khởi tố. Trong đó, đã bắt tạm giam 9 đối tượng (2 đối tượng còn lại đang bỏ trốn).

Báo Tiền phong ngày 19/5 cho biết thêm là một trong hai đối tượng đã bỏ trốn này là Vũ Thị Túc (em gái ruột của ông Vũ Trọng Tiệp - Chỉ huy trưởng BĐBP Quảng Ninh).

Được biết, hiện trên địa bàn các khu vực như Hạ Long, Cẩm Phả, Đông Triều, Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm bên ngoài ranh giới các mỏ do Tập đoàn Công nghiệp Than và khoáng sản Việt Nam quản lý, đang tồn tại một lượng rất lớn than lậu, than không rõ nguồn gốc sau khi được thu gom về bãi tập kết nhưng không thể đưa đi tiêu thụ.

  • Thế Lực (tổng hợp)
http://www.vietnamnet.vn/xahoi/2008/05/783764/

Lại phát hiện 360.000 tấn than lậu tại Quảng Ninh!

Cập nhật lúc 17:10, Chủ Nhật, 11/05/2008 (GMT+7)

Lực lượng liên ngành của tỉnh Quảng Ninh vừa tiến hành đợt kiểm tra, rà soát và phát hiện 360.000 tấn than không rõ nguồn gốc (với tổng trị giá lên tới 120 tỷ đồng) ở khu vực cảng KM 6 thị xã Cẩm Phả.

Mô tả ảnh.
Than thu gom trái phép ở Quảng Ninh. Ảnh: TPO
SGGP ngày 11/5 cho biết thêm: Chủ nhân của số than trên là Công ty TNHH Hà Đăng đóng trên địa bàn và số than được xác định là than lậu.

Được biết, hiện trên địa bàn các khu vực như Hạ Long, Cẩm Phả, Đông Triều, Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm bên ngoài ranh giới các mỏ do Tập đoàn Công nghiệp Than và khoáng sản Việt Nam quản lý, đang tồn tại một lượng rất lớn than lậu, than không rõ nguồn gốc sau khi được thu gom về bãi tập kết nhưng không thể đưa đi tiêu thụ
 
Liên quan đến tình trạng buôn lậu than ở Quảng Ninh, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh Nguyễn Duy Hưng vừa có ý kiến chỉ đạo trực tiếp với Tập đoàn Than - Khoáng sản và các cơ quan liên quan về việc xử lý những vi phạm trong khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than.

Ông Hưng yêu cầu, phải khởi tố hoặc xử lý hành chính ngay những vụ vi phạm đã được làm rõ.

Ngoài ra, liên quan đến 104 tàu than bị lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh kiểm tra, tạm giữ vừa qua, đến nay, cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Quảng Ninh đã quyết định khởi tố 6 vụ án hình sự về tội "tàng trữ, vận chuyển lưu hành giấy tờ có giá giả" đối với 6 công ty vi phạm.

  • Thế Lực (tổng hợp)
http://www.vietnamnet.vn/xahoi/2008/05/782497/

Đề nghị cách chức Chủ tịch Tập đoàn Than - Khoáng sản 2

Tài năng của ông đứng đầu TKV đây: Mỗi năm, ước tính có khoảng 10 triệu tấn than bị xuất lậu, gây thất thu và thiệt hại cho ngân sách Nhà nước khảng 4.500 tỷ đồng.

Cập nhật lúc 09:36, Thứ Năm, 03/09/2009 (GMT+7)
,

Một nguồn tin từ Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho hay, Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng vừa có quyết định kỷ luật cảnh cáo về Đảng và đề nghị cho thôi chức Chủ tịch TKV đối với ông Đoàn Văn Kiển.

Buông lỏng quản lý

Ông Kiển bị kỷ luật do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, trực tiếp ký quyết định hoặc đề nghị cấp dưới ký quyết định cho Công ty cổ phần đầu tư thương mại và dịch vụ (nơi em trai ông Kiển là Đoàn Văn Thức làm Phó Giám đốc) khai thác không có giấy phép trong khu vực ranh giới quản lý của các mỏ thuộc TKV.

Mô tả ảnh.
Mỗi năm, ước tính có khoảng 10 triệu tấn than bị xuất lậu, gây thất thu và thiệt hại cho ngân sách Nhà nước khảng 4.500 tỷ đồng. Ảnh: VNN

Ông Kiển còn phải chịu trách nhiệm buông lỏng quản lý, thiếu chặt chẽ trong việc quản lý, khai thác và quản lý hàng hóa trong quá trình vận chuyển tiêu thụ, dẫn tới tình trạng khai thác than trái phép trong thời gian dài.

Ngoài ra, ông Kiển còn vi phạm quy định của Chính phủ (điều 5, Nghị định 16, ngày 7/2/2005) về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại kinh tế cho TKV trong việc ý kết, thực hiện hợp đồng hợp tác giữa TKV và Công ty Cổ phần Phát triển Công nghiệp Quảng Ninh. Ông Kiển buông lỏng cho công ty này khai thác, chế biến và tiêu thụ hàng triệu tấn than trái phép.

Ngoài việc bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng, ông Kiển còn bị đề nghị cho thôi chức Chủ tịch TKV.

Trước đó, đầu năm 2008, nhiều báo đã có loạt bài điều tra về tình trạng khai thác, xuất lậu than tại Quảng Ninh. Sau khi báo chí và lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh vào cuộc, cơ quan điều tra Công an tỉnh đã điều tra, khởi tố hàng chục bị can liên quan đến việc khai thác, xuất lậu than.

Theo thông tin từ lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, mỗi năm, ước tính có khoảng 10 triệu tấn than bị xuất lậu, gây thất thu và thiệt hại cho ngân sách Nhà nước khảng 4.500 tỷ đồng.

Đến ngày 31/7/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến về kiểm điểm trách nhiệm việc để xảy ra khai thác, kinh doanh than trái phép tại Quảng Ninh.

Thủ tướng giao Bộ Công thương chỉ đạo việc kiểm điểm trách nhiệm, có hình thức kỷ luật cụ thể đối với tập thể, các cá nhân có liên quan của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trong việc để xảy ra tình trạng khai thác, kinh doanh than trái phép tại Quảng Ninh.

Hai lần bị cảnh cáo về Đảng

Năm 2001, ông Kiển đã bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng khi còn là Tổng Giám đốc Tổng công ty Than Việt Nam, sau khi Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ) kết luận Tổng Công ty của ông vi phạm quy chế vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ, kinh doanh ngoại tệ trái chức năng luật pháp cho phép.

Theo kết luận của Thanh tra Nhà nước, cho đến năm 1999, tổng số các khoản nợ của Tổng công ty Than Việt Nam lên tới 3.030 tỷ đồng trong khi, năm 1998, Tổng công ty này mất cân đối hơn 126 tỷ đồng.

Đây là hệ quả tất yếu của hàng loạt sai phạm từ lãnh đạo Tổng công ty tới các đơn vị thành viên trong thời gian ông Kiển làm Tổng giám đốc (1995-2000). Sai phạm trong quản lý xuất khẩu than gây thiệt hại 1,2 triệu USD trong năm 1998 và 486.000 USD trong chín tháng đầu năm 1999.

Nguyên nhân là Ban xuất nhập khẩu của Tổng công ty đã không tham khảo ý kiến các ban tham mưu (kế hoạch giá thành, kế toán tài chính...) mà tự xây dựng bản dự kiến giá xuất khẩu trình ông Kiển phê duyệt.

Điều này dẫn tới việc nhiều hợp đồng xuất khẩu than được ký với giá thấp hơn cả giá dự kiến, gây thiệt hại cho chính thành viên của Tổng công ty Than Việt Nam là Công ty xuất khẩu và Hợp tác quốc tế (Coalimex).

Thất thoát, lãng phí vốn Nhà nước

Ngoài ra, theo kết luận của thanh tra, trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản, cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều sai phạm của Tổng công ty Than Việt Nam, gây thất thoát, lãng phí vốn của Nhà nước gần 2,1 tỷ đồng.

Nguyên nhân là lãnh đạo TKV đã có tiêu cực trong tổ chức đấu thầu, vi phạm các quy chế vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ.

Trong vụ vay 30 triệu USD vống trung hạn của Citicop (Hong Kong), Tổng công ty đã hạch toán 585.000 USD làm chi phí vay tiền nhưng thiếu chứng từ gốc.

4/6 liên doanh mà Tổng công ty Than tham gia đều kém hiệu quả và có sai phạm lớn, trong đó Liên doanh nhà máy Bia VICCO - Sài Gòn đến 30/4/1999 đã lỗ 4,1 tỷ đồng và nợ thuế tiền tỷ.

Cũng theo kết luận thanh tra, tổng số tiền sai phạm phải xử lý trong vài năm bị thanh tra lên tới hơn 270 tỷ đồng và gần 600.000 USD (riêng Văn phòng Tổng công ty là 170 tỷ đồng và hơn 585.000 USD).

(Theo Tiền Phong)


Đề nghị thôi chức Chủ tịch TKV sau hai lần cảnh cáo

Tiếp tục tìm hiểu xem TKV là thế nào? Người đứng đầu TKV là ai mà có thể làm mưa làm gió như vậy?
Bài 1:
04-09-2009 23:39:47 GMT +7
NGHĨA NHÂN
Bốc than tại khu vực cảng Làng Khánh, TP Hạ Long. Ảnh minh họa: CTV
Ông Kiển ký quyết định "đặc quyền" cho công ty do em trai làm phó giám đốc được khai thác than không có giấy phép.

Trong cuộc họp với Đảng ủy Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV) hôm qua (4-9), Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã công bố quyết định kỷ luật cảnh cáo về Đảng với ông Đoàn Văn Kiển (ảnh), Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị TKV.

Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng quản lý

Theo đó, ông Kiển được kết luận là có những vi phạm về nguyên tắc tập trung dân chủ trong những lần trực tiếp ký quyết định hoặc đề nghị cấp dưới ký quyết định cho Công ty cổ phần Đầu tư thương mại và dịch vụ TKV do em ông - Đoàn Văn Thức làm phó giám đốc được khai thác than không có giấy phép trong khu vực ranh giới quản lý của các mỏ thuộc TKV.

Đoàn Văn KiểnNgoài ra, ông Kiển còn phải chịu trách nhiệm do buông lỏng quản lý và thiếu chặt chẽ trong việc quản lý khai thác, vận chuyển, tiêu thụ dẫn tới tình trạng khai thác than trái phép trong thời gian dài. Ông vi phạm Nghị định 16 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại kinh tế cho TKV trong thương vụ ký kết, thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa TKV và Công ty cổ phần Phát triển công nghiệp Quảng Ninh. Hậu quả là doanh nghiệp này đã tham gia khai thác, chế biến và tiêu thụ hàng triệu tấn than trái phép.

Hình thức kỷ luật cảnh cáo mà Ủy ban Kiểm tra trung ương quyết định là nghiêm khắc hơn mức kỷ luật khiển trách mà Đảng ủy TKV đề xuất sau nhiều lần họp kiểm điểm Bí thư Đoàn Văn Kiển. Ngoài hình thức kỷ luật Đảng này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương còn đề nghị cho ông Kiển thôi chức chủ tịch Hội đồng quản trị TKV. Vấn đề này thuộc thẩm quyền của Thủ tướng.

Tám năm, hai lần bị Đảng cảnh cáo

Như vậy, tám năm qua, ông Đoàn Văn Kiển đã hai lần bị kỷ luật Đảng. Lần trước, quyết định kỷ luật cảnh cáo được Ban Chấp hành Trung ương đưa ra trong hội nghị 11 (lần hai), tháng 3-2001. Khi đó, ông Kiển là ủy viên Trung ương, tổng giám đốc Tổng Công ty Than Việt Nam (tiền thân của TKV). Việc kỷ luật được thực hiện trong cuộc chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương sáu (lần hai) do Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu phát động.

Lần đó, sai phạm của ông Kiển bị phát hiện sau cuộc thanh tra của Thanh tra nhà nước với kết luận Tổng Công ty Than vi phạm quy chế vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ, kinh doanh ngoại tệ trái phép. Thanh tra còn phát hiện doanh nghiệp này, trong giai đoạn ông Kiển lãnh đạo, mất cân đối hơn 126 tỷ đồng... Tổng số tiền sai phạm phải xử lý theo kết luận thanh tra lên tới hơn 270 tỷ đồng và gần 600.000 USD, trong đó hơn 2/3 thuộc trách nhiệm văn phòng tổng công ty.

Nhiều nghi vấn sau siêu vụ án than lậu Quảng Ninh

Những sai phạm mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận nêu trên liên quan đến những phức tạp trong khai thác và kinh doanh than những năm gần đây ở Quảng Ninh. Tình hình nghiêm trọng đến mức tháng 4-2008, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh phải phát động một chiến dịch lớn bắt giữ hơn 100 xà lan chở than đang trên đường vận chuyển trái phép sang Trung Quốc.

Sau đó, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, Trương Vĩnh Trọng đã nhiều lần về làm việc hoặc yêu cầu chính quyền Quảng Ninh báo cáo. Theo các báo cáo của địa phương, vào thời điểm phức tạp nhất của nạn kinh doanh than lậu, mỗi năm đất nước mất đi 10 triệu tấn than xuất cảng trái phép, trị giá cả ngàn tỷ đồng. Số tài nguyên này không hề được quản lý và hầu hết rơi vào túi các đầu nậu than.

Công an tỉnh Quảng Ninh cùng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ (Bộ Công an) cũng đã vào cuộc. Tuy nhiên đến nay, theo báo cáo của VKSND tối cao, tòa án hai cấp ở Quảng Ninh mới chỉ đưa ra xét xử được những đối tượng vận chuyển trái phép hoặc sử dụng hóa đơn thuế khống trong việc xuất lậu than. Còn những người trực tiếp khai thác than lậu, tuồn cho các đầu nậu tiêu thụ vẫn chưa bị phát hiện, xử lý. Về vấn đề này, trong các báo cáo của mình, UBND và Tỉnh ủy Quảng Ninh đã nêu thẳng nghi vấn nguồn than lậu là từ các công ty của TKV.

http://www.phapluattp.vn/news/chinh-tri/view.aspx?news_id=268786




Trung Quốc đóng cửa 4.000 mỏ than

Có một liên hệ nào không giữa việc đóng cửa các mỏ than bên TQ và việc mở rộng khai thác ở Việt nam?

SGGP - 02/05/2007

Uỷ ban Phát triển và Cải cách nhà nước Trung Quốc ngày 30-4 thông báo, trước cuối năm nay phải đóng cửa 4.000 mỏ than và phải cơ bản hoàn thành công tác chỉnh đốn lại việc khai thác than đá.

Các mỏ than đóng cửa chủ yếu là những mỏ than khai thác trái phép, không đủ điều kiện sản xuất an toàn và cả những mỏ than không phù hợp chính sách ngành nghề, phá hoại tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường.

Kết quả điều tra cho thấy, sản lượng do mỏ than nhỏ ở Trung Quốc khai thác chiếm khoảng 1/3 sản lượng than toàn quốc, nhưng số người thiệt mạng vì tai nạn lại chiếm 2/3. Hiện nay, các mỏ than nhỏ khai thác trái phép, thiếu điều kiện an toàn lao động đang là vấn nạn ở Trung Quốc.

Đã đến lúc Việt Nam thực hiện minh bạch tài nguyên

SGTT - Minh bạch tài nguyên là một sáng kiến khởi nguồn từ lĩnh vực công nghiệp khai thác khoáng sản (dầu mỏ, than đá, vàng, kim cương, bauxite…), sau mở rộng ra đến cacao, gỗ, cát… Việc khai thác các nguồn tài nguyên nếu được quản lý tốt sẽ đem lại nguồn thu nhập rất lớn để các quốc gia tăng trưởng kinh tế và đẩy lùi đói nghèo. Ngược lại, sẽ làm cho đói nghèo, tham nhũng và các xung đột xã hội khác không những chẳng giảm đi mà còn trầm trọng hơn.

Kinh nghiệm quốc tế

Xuất phát từ thực tế đó, tháng 10.2002, tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững họp ở Johannesburg (Nam Phi), cựu thủ tướng Anh Tony Blair đã công bố sáng kiến về EITI (Extractive Industries Transparency Initiative – Sáng kiến minh bạch công nghiệp khai khoáng). Với phương hướng hoạt động và cơ chế quản lý đúng pháp luật, thiết thực và linh hoạt, đến nay EITI đã thuyết phục và đạt được sự công nhận chính thức của Liên hiệp quốc, của các tổ chức quốc tế như G8, G20, EU, ngân hàng Phát triển châu Phi, 22 quốc gia tự nguyện làm thành viên cùng nhiều nhà đầu tư, công ty khai khoáng.

Mục tiêu của EITI là minh bạch hoá hoạt động khai thác khoáng sản (tài nguyên khác) trong một quốc gia, bao gồm nguồn thu của chính phủ từ việc khai thác, trách nhiệm giải trình tài chính của các công ty khai thác theo đúng pháp luật và hợp đồng, các khoản thu thuế và phí thuê đất đai để khai thác, thu ký quỹ bảo vệ môi trường, các khoản chi để tái tạo tài nguyên, để hỗ trợ những ảnh hưởng ở địa phương do khai thác. Minh bạch hoá như vậy sẽ giúp cho người dân nâng cao hiểu biết đối với nguồn thu – chi từ việc cho khai thác tài nguyên, khoáng sản mà chính phủ đại diện dân thực hiện; từ hiểu biết đó người dân sẽ cân nhắc và đưa ra lựa chọn thích hợp và thực tế hơn cho sự phát triển bền vững của quốc gia trong vai trò công dân.

Ở Ghana – một quốc gia châu Phi có tới 35% tổng thu nhập ngoại tệ và 5,5% tổng thu nhập quốc dân là từ hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản, EITI rất được coi trọng và sớm triển khai ứng dụng. Bộ Tài chính và bộ Khoáng sản đã hợp tác thành lập uỷ ban Chỉ đạo quốc gia về EITI và ban thư ký EITI của Ghana. Hai cơ quan này giúp cho chính phủ, các nhà đầu tư, các địa phương và người dân hiểu sâu về EITI, liên kết họ lại trong mục tiêu chung là giám sát, đánh giá các chương trình khai khoáng quốc gia nhằm mục tiêu phát triển bền vững và vì lợi ích của công dân. Ở Ghana, bằng việc kiểm toán các khoản thu – chi, kiểm tra việc tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán quốc tế và công khai trước công chúng qua phương tiện thông tin đại chúng, EITI đã nâng cao đáng kể tính minh bạch các nguồn thu và chi phí từ hoạt động khai thác khoáng sản của chính phủ.

Và yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam

Nước ta trước nay vẫn được xem là một quốc gia "rừng vàng, biển bạc". Than đá, dầu khí, rừng tự nhiên, quặng quý hiếm, cát, thuỷ hải sản, tiềm năng thuỷ điện, năng lượng mặt trời… Ngần ấy tài nguyên do thiên nhiên ưu đãi không phải quốc gia nào cũng có.

Nhưng thời gian gần đây, tài nguyên nước ta đang khuấy động tâm can bao người. Mấy trăm ngàn hécta rừng tự nhiên ở Tây Nguyên, ở miền Trung bỗng dưng bị đặt tên là "rừng nghèo", và các công ty được cấp phép ồ ạt để kéo lên phá rừng tự nhiên trồng cao su. Đem cây cao su thay thế cho rừng tự nhiên ở những vị trí địa lý mang tính lá chắn sinh thái cho nạn lũ xoáy, giữ độ bền vững của lòng đất thì tất thảy những ai hiểu biết nảy sinh lo ngại là phải. Cây cao su đâu có phải là cây đa tầng để có thể hình thành những cánh rừng tự nhiên quý giá mà đất ta đã có ngàn đời trước, lẽ ra phải tiếp tục giữ cho ngàn đời sau. Rồi thì than đá ở Quảng Ninh bị lén lút khai thác bán sang Trung Quốc. Và gần đây nhất là cát. Cát trắng phau ở bờ biển hay cát vàng ở đáy các con sông ở miền Trung, ở Nam bộ, tất thảy đang bị nạo vét cật lực để xuất khẩu, để xây tô, để san lấp mặt bằng cho các công trình xây dựng lớn nhỏ đang mọc lên như nấm sau mưa.

Tin tức đưa dồn dập: công ty Kỹ nghệ khoáng sản Quảng Nam khai thác vượt công suất quy định trong giấy phép 210.000 tấn cát, đồng thời khai thác trái phép 37.000 tấn cát có giá trị cao ở địa bàn các xã Bình Phúc, Bình Giang, huyện Thăng Bình. Ghê gớm hơn, cũng chính công ty này đã hoàn toàn không thèm thực hiện báo cáo tác động môi trường và không ký quỹ bảo vệ môi trường như cơ quan cấp phép yêu cầu. Cơ quan chức năng đã kiến nghị đình chỉ khai thác đối với công ty này, truy thu thuế, phạt ở mức cao nhất các vi phạm. Đến nay chưa thấy công bố kết quả xử lý cái tội chẳng mấy khó quy này! Còn ở sông Thị Tính thuộc thị trấn Mỹ Phước tỉnh Bình Dương, bốn ghe khai thác lậu 40m3 cát bị bắt quả tang đang cắm ống hút cát trái phép xuống lòng sông sâu hàng chục mét vào ngày 19.8.2009. Hỏi ra mới biết công ty tư nhân Lê Nam này của bà Trần Thị Lê gia công, khai thác kinh doanh và mua lại cát của công ty Đại Nam do ông Huỳnh Uy Dũng làm giám đốc. Đến nay vụ này vẫn chưa công bố kết quả xử lý.

Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, theo Hải quan Cần Thơ, thực trạng xuất khẩu cát trong sáu tháng đầu năm 2009 đã bằng khối lượng cả chục năm trước đó cộng lại. Mặc dù Chính phủ đã ban hành chỉ thị 29/CP từ tháng 10.2008 là tạm dừng xuất khẩu cát (kể cả cát biển) nhưng việc xuất khẩu cát vẫn ầm ầm trên các dòng sông và cửa cảng. Lý do thật đơn giản: hợp đồng nào ký trước 30.11.2008 thì vẫn được thực hiện cho đến hết hợp đồng. Thế là lập tức có hiện tượng ký lùi ngày hợp đồng cho "đúng quy định". Hải quan thì lại không có chức năng giám sát hợp đồng. Mà hợp đồng nào cũng có khối lượng xuất đến hơn chục triệu mét khối cát. Hải quan Cần Thơ cho biết, có cả những hợp đồng không tìm thấy thời hạn kết thúc. Ở Tiền Giang, khi bị phát hiện phạm tội, bọn sa tặc đã ngang nhiên giết hại một thanh tra môi trường trẻ tuổi, mẫn cán là Nguyễn Hùng Tráng vào những ngày đầu tháng tám năm nay…

Đã đến lúc Việt Nam chúng ta, từ các cơ quan trung ương đến các địa phương phải khẩn trương ngồi lại tính toán chiến lược khai thác tài nguyên khoáng sản để đi tới khả năng minh bạch như các quốc gia khác đã và đang làm. Trước hết là cát. Đó là thứ tài nguyên không tái tạo được. Cho nên Singapore ngưng xuất khẩu cát, chỉ tăng cường nhập khẩu cát từ Việt Nam. Campuchia đã cho đóng cửa mỏ cát, cấm xuất khẩu cát từ tháng 5.2008. Còn chúng ta, cát sẽ tiếp tục ra đi, sẽ tiếp tục để lại sự trống vắng đáng sợ cho tương lai chăng.

Nguyễn Thế Thanh


http://www.sgtt.com.vn/Detail23.aspx?ColumnId=23&newsid=56563&fld=HTMG/2009/0906/56563