Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

ĐB sông Hồng có thể thành bể nước mặn nếu khai thác than?

Chuyên gia cảnh báo, muốn khai thác than phải tháo khô mỏ, có thể gây sụt lún lan tỏa theo bề mặt khiến đồng bằng biến thành hồ chứa nước mặn...

Còn quá nhiều lo ngại, thắc mắc của 17 bộ, ngành, chính quyền địa phương về tác động của khai thác than ở Đồng bằng (ĐB) sông Hồng đối với môi trường, địa chất, tài nguyên khác gửi về Bộ Công thương. Trong khi đó, các giải pháp khắc phục của Tập đoàn Công nghiệp Than & khoáng sản Việt Nam (TKV) đưa ra chưa làm yên lòng hầu hết cơ quan phản biện, nghiên cứu khoa học.

Chỉ nên thử nghiệm hai dự án

Giáo sư Trần Văn Trị, Phó chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam, đánh giá, điều kiện địa chất thủy văn và địa chất công trình ở bể than ĐB sông Hồng vô cùng phức tạp.

Đơn cử tại khu vực mỏ Bình Minh, Hưng Yên, một  trong những địa điểm chính TKV dự định thí điểm khai thác công nghệ hầm lò và khí hóa than ngầm dưới lòng đất, báo cáo của chính TKV cho thấy, nếu khai thác ở độ sâu -300 m, lưu lượng nước chảy vào mỏ có thể lên tới hơn 20.000 m3 mỗi giờ.

Ông Nguyễn Phụ Vụ nhận xét TKV chưa báo cáo cụ thể về chiếm dụng đất đai trong cả quá trình thăm dò và khai thác. Ảnh minh họa.

Phó hiệu trưởng ĐH Mỏ - Địa chất, Nguyễn Phụ Vụ không hài lòng vì phần khai thác của đề án chưa thiết kế phương án bơm thoát nước. Đồng thời, báo cáo tác động môi trường chưa phản ánh đầy đủ tình trạng lượng nước ngầm bơm ra không kịp ngấm trở lại sẽ làm hạ mực nước ngầm trong khu vực, từ đó có thể gây sụt lún cục bộ khu mỏ, cũng như khu vực xung quanh.

Một công nghệ chống sụt lún được TKV tính tới là chèn lò bằng thủy lực cát (chèn cát vào nơi lấy than ra để khỏi sụt lún). Nhưng Phó hiệu trưởng Vụ vẫn băn khoăn: "Khối lượng cát rất lớn định lấy từ nguồn sông Hồng có đủ không, ảnh hưởng thế nào đối với dòng chảy, nếu không đủ sẽ sử dụng nguồn thay thế từ đâu?"

Đặc biệt, giáo sư Trị cảnh báo, muốn khai thác than phải tháo khô mỏ, có thể dẫn đến gây nhiễm mặn môi trường sinh thái trên mặt đất. Đồng thời gây sụt lún tức thời và lâu dài (có khi kéo dài hàng chục, hàng trăm năm), đặc biệt là sụt lún lan tỏa theo bề mặt khiến đồng bằng có thể biến thành hồ chứa nước mặn... nhưng đề án chưa tính toán kỹ giải pháp đối phó.

Do đó, tiến sĩ Nguyễn Sĩ Quý, thành viên Hội đồng thẩm định đề án bể than Đồng bằng Sông Hồng của Bộ Công thương đề xuất chỉ thử nghiệm ở 2 mỏ thay vì 4 như đề xuất của TKV. Sau khi có kết quả mới thăm dò bổ sung vùng than Khoái Châu (Hưng Yên).

Xung đột than - khí – lúa

Giáo sư Trần Văn Trị nhấn mạnh, trên Đồng bằng Sông Hồng không chỉ có than mà còn nhiều khoáng sản khác, đặc biệt là dầu khí. Do đó, khi tác động đến một yếu tố riêng lẻ sẽ khó tránh khỏi làm xáo trộn toàn hệ thống.

Mới đây, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) trình Bộ Công thương báo cáo cho biết đã ký hai hợp đồng phân chia sản phẩm với đối tác nước ngoài nhằm khai thác khí than, tách khí từ than sau khi hút nước lên, chính tại khu vực triển khai chính của đề án bể than Đồng bằng Sông Hồng là hai tỉnh Hưng Yên, Thái Bình.

Cả hai dự án đã được Bộ Kế hoạch - Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư và đang tích cực thăm dò khí than. Trưởng ban Tìm kiếm thăm dò dầu khí Hoàng Ngọc Đan (PVN) bức xúc: "Trên cùng một diện tích có hai nhà thầu cùng thăm dò khai thác khí than, khí hóa than rất dễ phát sinh mâu thuẫn và thực tế đã xảy ra tại Hưng Yên. Đề nghị Bộ Công thương có cơ chế giải quyết mâu thuẫn này".

Chưa hết, bể than đồng bằng sông Hồng nằm dưới vựa lúa của khu vực nên những tác động về môi trường khiến không ít người lo ngại than và khí sẽ "giết chết" lúa. 

Theo đề án của TKV, trong hoặc sau khi khai thác thử nghiệm bốn dự án khai thác hầm lò phần nông – sâu, khí hóa ngầm dưới lòng đất phần nông – sâu tại Hưng Yên và Thái Bình, nếu sụt lún mặt đất dưới 1 m có thể bồi hoàn bằng đất phù sa sông Hồng gần đó với tỷ lệ 1 m3 than bù 1,2 m3 đất.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên, ông Nguyễn Thanh Quán, phản đối giải pháp này vì không thể canh tác lúa nước trên đất… phù sa.

Theo tính toán của TKV, nếu thử nghiệm thành công, dự kiến đến cuối năm 2012 mỏ Tiên Dung có thể đạt công suất 3,7 tỷ Nm3 khí mỗi năm và nhà máy điện khí 115 MW hoặc nhà máy khí hóa lỏng 58,2 vạn thùng dầu diesel mỗi năm. Mỏ Bình Minh có thể hoạt động vào năm 2015 với công suất 3 triệu tấn than mỗi năm.

Dự kiến mỏ Tây Sa, Đông Hoàng, hoạt động vào năm 2018 và 2020 cùng với công suất khoảng 5 triệu tấn mỗi năm.
Nhưng Phó hiệu trưởng Nguyễn Phụ Vụ đề nghị TKV cân đối lại chi phí, giá thành sản phẩm cũng như lợi nhuận vì một số dự toán được tính quá lớn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét