Đã có rất nhiều bài học thấm thía về chuyện "bóc ngắn cắn dài". Với phép "bán - mua" than như vừa qua, không chỉ an ninh năng lượng quốc gia đang bị đe dọa từng ngày mà càng thấy chúng ta "gánh vàng đi đổ sông Ngô" mà không biết xót!
Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) vừa cho biết, từ năm 2012 nước ta sẽ phải nhập khẩu than và lượng nhập khẩu sẽ tăng dần, năm 2015 là 34 triệu tấn, năm 2020: 114 triệu tấn và đến năm 2025 sẽ là 228 triệu tấn.
Trước đây, một số chuyên gia của Bộ Công Thương đã dự báo từ năm 2015 Việt Nam sẽ phải nhập than, nhưng điều dự báo này đã tới sớm hơn dự kiến. Cùng lúc với thông báo trên, TKV đã ký hợp đồng mua than của Indonesia cho dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (tỉnh Bình Thuận) với sản lượng 3,5 triệu tấn. Ngoài đàm phán tại Indonesia, TKV cũng đã cử các đoàn đi khảo sát ở Australia để xúc tiến nhập khẩu than cho các dự án nhiệt điện.
Việc Việt Nam - nước có những mỏ than lộ thiên với trữ lượng lớn bắt đầu phảinhập khẩu than có lẽ không mấy gây ngạc nhiên với những người trong cuộc và giới xuất khẩu sản phẩm này. Song dư luận rộng rãi không thể không bận tâm trước trước một thực tế là hiện nay, mỗi năm TKV khai thác được hơn 50 triệu tấn than, trong đó khoảng 15 - 20 triệu tấn cung cấp cho các khách hàng trong nước, còn lại xuất khẩu hết, chủ yếu là sang Trung Quốc. Đó là chưa tính đến lượng than bị xuất khẩu lậu mỗi năm lên đến cả hàng triệu tấn, thậm chí là cả chục triệu tấn như báo chí gần đây đã nêu và thanh tra đã vào cuộc. Rõ ràng đây là một sự thật trớ trêu.
Nguồn cung cấp than chính của Việt Nam là các mỏ ở tỉnh Quảng Ninh. Theo TKV, vùng mỏ này có tổng trữ lượng 10,5 tỉ tấn, đủ để cung cấp cho nền kinh tế mỗi năm 50 triệu tấn trong 70 năm nữa. Nhưng với cách khai thác cùng kiệt bất chấp quy hoạch cộng với việc xuất khẩu ồ ạt thì việc sớm nhập khẩu nguồn nhiên liệu này cũng là lẽ đương nhiên. Năm 2007, Việt Nam xuất khẩu hơn 32,5 triệu tấn than, thu được 1,018 tỉ USD. Người ta cũng đã tính được rằng, với số tiền này nếu phải nhập khẩu than để cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện, thì tại thời điểm hiện nay, số tiền trên chỉ đủ để mua lại 7,5 triệu tấn! Xuất khẩu than càng nhiều, càng thiệt hại. Không nghi ngờ gì, an ninh năng lượng quốc gia đang bị đe dọa từng ngày.
Ai cũng biết rằng, than là nguồn tài nguyên không tái sinh. Ở nhiều nước phát triển như Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nhật… không hề hiếm các vùng mỏ nhưng chẳng quốc gia nào lại khai thác kiểu "sạch bách" và xuất khẩu than "hộc tốc" nhưta. Ngược lại, họ sản xuất cực kỳ hạn chế, thậm chí đóng cửa mỏ nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên này. Cùng với đó là việc nghiên cứu những nhiên liệu tổng hợp để thay thế than đã được xúc tiến từ nhiều năm nay. Chẳng đâu xa, ngay nước láng giềng Trung Quốc, nơi có số mỏ than có lẽ đứng đầu thế giới với tổng sản lượng 1,2 tỷ tấn/năm nhưng bên cạnh việc khai thác, nước này vẫn nhập khẩu than từ Việt Nam nhưng là... chôn xuống đất, để dành!
Chính "sự kiện tháng 4" vừa qua khi cùng lúc trên 100 tầu than xuất lậu bị bắt giữ tại cảng Vạn Gia (Quảng Ninh), người ta mới thấy hết sự bi hài của chương trình nhập khẩu than của TKV.
Đơn vị phải chịu trách nhiệm đầu tiên về việc buông lỏng quản lý khai thác, tiêu thụ, gây thất thoát tài nguyên nghiêm trọng đương nhiên là TKV. Nhưng sự thật không đơn giản như vậy và xét cho cùng, thì cả hệ thống chính quyền tỉnh Quảng Ninh cũng có lỗi không nhỏ trước thực trạng này. Đã có rất nhiều dự án tận thu, khai thác than do chính những người lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ninh ký duyệt cho các tổ chức, cá nhân không thuộc ngành than hoạt động. Riêng một sở Kế hoạch - Đầu tư Quảng Ninh đã cấp tới 500 giấy phép kinh doanh than cho các thành phần kinh tế ngoài ngành than; tiếp tay khai mở con đường xuất khẩu than lậu lại là một số người trong các lực lượng, biên phòng, cảng vụ, hải quan, cảnh sát thủy...
Dù sao, tình hình trật tự trong khai thác, kinh doanh, xuất khẩu than cũng đã tạm thời được dẹp yên. Cùng với hàng loạt giải pháp được thực thi nhằm tổ chức lại việc quản lý, sản xuất và xuất khẩu than, ngành than đã kiến nghị Chính phủ xem xét, đưa than vào danh mục mặt hàng độc quyền nhà nước và có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nhanh sản xuất than trong nước, đảm bảo cho chiến lược an ninh năng lương quốc gia trong các thập niên sau. Tuy nhiên, hậu quả của sự bất ổn vừa qua vẫn đang còn rất nhiều việc phải làm. Nhưng dù thế nào, an dân vẫn là mục tiêu số một. Bởi thực trạng trên khiến chúng ta không chỉ tổn thất tài nguyên, gây nguy cơ cho an ninh năng lương quốc gia mà ít nhiều còn vô hiệu cả hệ thống quản lý nhà nước, làm mất lòng tin của nhân dân và những người thợ mỏ. Chưa nói tới di hại cho tương lai của nền kinh tế đất nước và các thế hệ sau này.
Than không phải là "nồi cơm Thạch Sanh". Đã có rất nhiều bài học thấm thía về chuyện "bóc ngắn cắn dài". Từ một nước xuất khẩu muối ăn, Việt Nam cũng đã bắt đầu phải làm ngược lại. Chúng ta đang tự hào là nước đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, là nước xuất khẩu lớn về hạt tiêu, cà phê, hạt điều… Nhưng nếu không chịu nhìn xa trông rộng và có chiến lược bảo tồn, phát triển thì rồi gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều... cũng sẽ phải tiến tới "ăn đong".
Ở đây, hòn than cũng thế - càng quan trọng bội phần. Nhìn lại phép "bán - mua" trên, mới thấy chúng ta "gánh vàng đi đổ sông Ngô" mà không biết xót!
http://tintuc.timnhanh.com/kinh_te/20080629/35A7C696/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét