Đây là khẳng định của TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng -TKV, chi nhánh của TKV tại Hưng Yên để phát triển Bể than Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH).
Chấp nhận tổn thất than để bảo vệ môi trường
Bể than ĐBSH nằm trên một khu vực quá đông dân cư, nhiều người cho rằng, việc khai thác than sẽ gây tác động rất lớn tới đời sống người dân?
| |
| "Phải có báo cáo môi trường chiến lược" |
Quả thật, bể than ĐBSH nằm chủ yếu trên địa bàn 3 tỉnh đông dân: Thái Bình, Hưng Yên, và Nam Định. Ở khu vực này, không thể khai thác lộ thiên giống như bể than Quảng Ninh được.
Có hai công nghệ có thể áp dụng cho việc khai thác bể than này: Hoặc là khai thác than hầm lò truyền thống, hoặc là khí hoá than ngầm dưới lòng đất. Phương pháp khí hoá than có nghĩa là đốt cháy than ngay dưới lòng đất trong điều kiện thiếu oxy, để thu về được nhiều loại khí có thể cháy được như CO, H2, CH4, CmHn, H2S và giảm tối thiểu những loại khí không cháy được và có hại như N2 và CO2.
Tất nhiên, việc khai thác than ở ĐBSH sẽ đòi hỏi phải có các giải pháp công nghệ phù hợp và yêu cầu kỹ thuật cao hơn rất nhiều so với khai thác than ở vùng Quảng Ninh.
Người ta vẫn lo ngại việc khai thác than có thể gây sụt lún nguy hiểm?
Khai thác không đúng kỹ thuật rõ ràng sẽ gây sụt lún. Tuy nhiên, về góc độ kỹ thuật, nếu không muốn bị sụt lún thì khai thác ở dưới sâu, càng sâu thì mức độ ảnh hưởng của nó lên tới mặt đất càng giảm, và ở độ sâu nhất định thì sẽ không thể ảnh hưởng lên tới mặt đất. Độ sâu cụ thể là bao nhiêu phải được nghiên cứu thật kỹ mới có thể nói chính xác được.
Ngoài ra, về góc độ công nghệ, chúng ta cũng có các giải pháp như để lại trụ bảo vệ, chiều cao khấu tối ưu v.v... Như ở vùng Quảng Ninh ước tính, nếu khai thác ở độ sâu dưới 300 mét thì mặt đất có thể không bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, tầng chứa than ở đồng bằng sông Hồng nằm cách mặt đất khoảng 150 mét, nghĩa là có những vỉa than chúng ta không thể khai thác. Chúng ta phải chấp nhận lãng phí, tổn thất tài nguyên để bảo vệ đất canh tác, đất ở và nguồn nước ngầm.
Kiểu khai thác này đã được áp dụng trên thế giới như thế nào, thưa ông?
Công nghệ khai thác hầm lò trên thế giới rất phát triển, đặc biệt là ở Trung Quốc. Sản lượng than của Trung Quốc đạt gần 3 tỷ tấn, chủ yếu (90%) được khai thác bằng công nghệ hầm lò. Ở Nhật người ta khai thác dưới đáy biển, ở Ba Lan, khai thác dưới nhà thờ, cánh đồng trồng lúa mỳ, hoặc đường xe lửa, ở Banghlades cũng có mỏ hầm lò dưới cánh đồng lúa gập nước.
Còn công nghệ khí hoá than ngầm dưới lòng đất trên thế giới, hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều đã nghiên cứu thành công, nhưng họ "đắp chiếu" để đấy.
4,9 triệu mét khoan thử nghiệm tới năm 2025
Liệu Việt Nam đã đáp ứng được chuyện khai thác ở độ sâu như vậy chưa?
Khai thác than ĐBSH đòi hỏi trình độ công nhân, cán bộ kỹ thuật phải tốt hơn, công nghệ cũng khác, thiết bị kỹ thuật cũng khác. Việt Nam 120 năm nay chủ yếu chỉ làm than ở vùng Quảng Ninh với công nghệ khai thác lộ thiên rất đơn giản, chỉ cần ô tô, máy xúc, máy khoan.
Muốn phát triển Bể than ĐBSH, trước hết chúng ta phải thăm dò kỹ hơn rất nhiều. Chúng ta mới khoan thăm dò được khoảng 100 lỗ trong khi để khai thác bằng các công nghệ như tôi đã nói, phải khoan thăm dò trên dưới 4100 lỗ với tổng chiều dài lỗ khoan sâu lên tới 4,9 triệu mét (120 năm qua, ngành than mới khoan được khoảng 2 triệu mét khoan sâu).
Nhưng chúng ta sẽ bắt đầu khai thác thử nghiệm từ năm 2010 rồi, như vậy có "vội" quá không?
May ra từ giờ tới 2010 mới có thể bắt đầu thử nghiệm công nghệ khí hoá than ngầm. Địa điểm chắc chắn là Hưng Yên chứ không phải là Thái Bình như một số phương tiện truyền thông đại chúng đã nói.
Đồng thời với thử nghiệm các phương án công nghệ khí hoá than ngầm, chúng ta còn cần thử nghiệm các phương án công nghệ khai thác hầm lò khác.
Dự kiến, tổng cộng có 4 phương án công nghệ cần thử nghiệm. Việc khai thác "đại trà" chỉ bắt đầu sau khi thử nghiệm thành công các phương án công nghệ này. Thành công phương án nào thì triển khai theo phương án đó. Thành công đến đâu, triển khai đến đó.
Dự báo bao giờ có thể khai thác chính thức bể than đồng bằng sông Hồng?
Chắc chắn là còn rất lâu. Riêng việc khoan thăm dò cũng phải làm từ nay tới năm 2025 may ra mới xong.
Các dự án thử nghiệm công nghệ có thể bắt đầu ngay, nhưng cũng phải khoan thăm dò. Để tiết kiệm thời gian, chúng ta phải triển khai với qui trình "cuốn chiếu" đối với thử nghiệm công nghệ và "vết dầu loang" đối với khoan thăm dò.
"Cuốn chiếu" đối với thử nghiệm thì như tôi đã nói. Còn "vết dầu loang" đối với khoan thăm dò là chúng tôi sẽ chọn ra những vị trí thuận lợi nhất (khoảng vài km2) để tập chung khoan thăm dò với mức độ đủ và cần cho khâu khai thác, sau đó sẽ thăm dò rộng ra.
Còn nếu chờ thăm dò xong toàn bộ bể than (khoảng 2700km2) mới tiến hành khai thác thì phải sau 2025 mới xong được khâu thăm dò đánh giá, và sau 2035 may ra người dân Thái Bình mới nhìn thấy hòn than dưới lòng xã Mỹ Lộc (huyện Thái Thuỵ, nơi đang triển khai dự án nhiệt điện chạy than công suất 1800MW) đẹp như thế nào.
Giá cả sẽ cạnh tranh được
Một vấn đề nữa thưa ông, chi phí khai thác than ở bể than đồng bằng sông Hồng chắc chắn sẽ rất cao, như vậy có đảm bảo tính cạnh tranh?
Nếu khai thác bằng công nghệ hầm lò, giá than ở đây khai thác lên là khoảng 40-45 USD/tấn. So sánh với Quảng Ninh thì không thể cạnh tranh được vì ở đó khai thác lộ thiên là chủ yếu.
Nếu so sánh với than nhập khẩu, thì than ĐBSH hoàn toàn có thể cạnh tranh được. Một tấn than nhập khẩu từ Australia (nước gần nhất), chi phí vận chuyển đã là 15-25 USD/tấn, chưa kể giá mua. Còn việc có mua được than của họ hay không lại là chuyện khác, chắc chắn rất khó, kể cả mua đắt.
EVN đã từng tính, giá thành một tấn than nhập khẩu về tới đồng bằng sông Hồng có thể lên tới 135 USD. Tôi sợ còn cao hơn, vì phải tính đến khâu bốc than lên.
Còn nếu khí hoá than ngầm, sản phẩm của công nghệ này là khí tổng hợp từ than cũng hoàn toàn cạnh tranh được với khí thiên nhiên nếu dùng phát điện nếu giá khí thiên nhiên cao hơn 3U$/triệu BTU (giá thành khí tổng hợp của chúng tôi dự kiến là 2,44U$/triệu.BTU).
Còn nếu dùng khí tổng hợp này để chế thành dầu diesel cũng có thể cạnh tranh được với diesel từ dầu mỏ nếu giá dầu mỏ ở mức trên 60 USD/thùng. Chúng ta xúc tiến việc khai thác than ở đây một phần cũng vì giá dầu thế giới tăng cao. Nếu giá dầu ở mức dưới 45 USD/thùng, thì việc nhập khẩu dầu sẽ có lợi hơn về kinh tế.
Đã có dư luận cho rằng, than khai thác để xuất khẩu sang một số nước, ví dụ Trung Quốc?
Dư luận "cho" như vậy là hơi sớm. Bây giờ ta nên hướng để dư luận "lo" giúp chúng tôi việc có khai thác được hay không?. Đây mới là điều quan trọng. Nếu khai thác được than ĐBSH tới mức có dư để xuất khẩu thì có thể nói là nền kinh tế của VN đã "trúng quả" lớn rồi…
Ông có điều gì muốn chia sẻ với độc giả về việc khai thác than ở đồng bằng sông Hồng?
Chúng tôi đang trình Thủ tướng Chính phủ một Đề án phát triển riêng cho bể than này. Chúng ta đã có quy hoạch ngành than tới 2025, nhưng riêng bể than này phải có đề án riêng. Sau khi Đề án được thông qua, phải có qui hoạch chi tiết và báo cáo tác động môi trường chiến lược. Bởi cũng như bauxite Tây Nguyên, vùng than này rất lớn, liên quan tới địa bàn 3 tỉnh. Chúng ta cần làm nhanh, nhưng phải bài bản.
Theo Thế Lực – Hoàng Hạnh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét