Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện

13/09/2009 06:45 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Để đảm bảo tính thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam xin lược đăng một số ý kiến của ông Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng- chi nhánh của TKV tại Hưng Yên (SHE) bàn lại với giới phản biện về đề án phát triển Bể than đồng bằng sông Hồng.
>> Mở bể than 210 tỷ tấn: Tiềm năng lớn, rủi ro cao
>> Mở bể than 210 tỷ tấn: Không đánh đổi lúa lấy than
>> Mở bể than 210 tỷ tấn: Lắng nghe phản biện

Với tư cách cá nhân, cũng là một độc giả, cũng đã từng tham gia đóng góp cho nhiều dự án, đề án, tôi thấy cần thiết phải cung cấp thêm thông tin để trao đổi với tiến sỹ địa chất Nguyễn Sĩ Quý về nội dung trả lời phỏng vấn của ông được đăng tải trên Tuần Việt Nam hôm 10/9.

Trước hết, phần lớn những ý kiến phản biện của TS. Nguyễn Sĩ Quý với tư cách là thành viên của Hội đồng thẩm định đã được SHE nghiên cứu, tiếp thu và phúc đáp trực tiếp trong cuộc họp gần đây nhất của Hội đồng thẩm định. Những ý kiến trả lời phỏng vấn của TS. Nguyễn Sĩ Quý lần này chưa thuyết phục, dễ dẫn đến những hiểu nhầm.

Ảnh minh họa (binhthuan.gov.vn)

"Sụt lún là quan ngại của chính chúng tôi"

- Trong phần đầu trả lời phỏng vấn TS. Quý nói: "Quan ngại lớn nhất của chúng tôi với việc khai thác bể than sông Hồng là vấn đề sụt lún, biến vựa lúa đồng bằng sông Hồng thành hồ chứa nước nhiễm mặn. Thậm chí, cũng có người dự báo nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ phải di dân tới nơi khác ở".

Thực ra vấn đề sụt lún là quan ngại của chính chúng tôi đã được nêu ra trong đề án. Chúng tôi, những người hiểu về công nghệ khai thác than thấy rõ mối "quan ngại" này, và đã tự nguyện nêu ra để Chính Phủ và các cơ quan quản lý đánh giá hết mức độ rủi ro, cũng như các điều kiện khó khăn khi triển khai dự án.

Còn việc "phải di dân tới nơi khác ở" thì chưa thấy ai dự báo cả. Trong Đề án, cũng như khi làm việc với lãnh đạo của các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, TKV đã khẳng định, để khai thác than ĐBSH không thể tính tới chuyện di dời dân, nếu phải di dời dân để khai thác than ở ĐBSH thì chúng ta hãy quên đi, coi như VN không có 210 tỷ tấn than ở ĐBSH.

- Về mặt kỹ thuật, các giải pháp để chống sụt lún rất đa dạng và nhiều, chứ không đơn giản và ít như trong trả lời phỏng vấn. Chèn lò chỉ là một trong rất nhiều phương pháp thôi. Riêng giải pháp tạm gọi là bù lún thì trong văn bản giải trình tiếp thu của mình TKV đã xin "rút lui" rồi, vì khó giải thích, mặc dù trên thực tế là đơn giản nhất, và rẻ tiền nhất.

Còn mối lo "không biết lấy đất ở đâu" cũng không phải chuyện quá âu lo. Chẳng lẽ ở ĐBSH đất cát lại ít hơn than. Đơn giản về mặt kỹ thuật, khi lấy ra 1 tấn than, nếu phải chèn lò để chống lún sụt trên mặt đất, chúng ta chỉ cần đưa vào khoảng 1m3 cát để lấp chỗ trống; còn về mặt kinh tế, 1 tấn than có giá trị và giá trị sử dụng cao hơn nhiều so với cát…

- Việc "lấp bằng phù sa" không phải là để "chống sụt lún". Những khái niệm "lan tỏa", hay "kéo theo" về sụt lún mà TS. Quý đưa ra ít tìm thấy trong các sách giáo khoa nước ngoài về điều khiển áp lực mỏ hay quản lý dịch động.

Và trong đề án của mình, TKV đã giới thiệu sơ bộ lý thuyết về quản lý dịch động. Về vấn đề này, chỉ những người có đủ trình độ ngoại ngữ mới có đủ thông tin và hiểu được. Thực ra, đây là "sân chơi" của các chuyên gia về khai thác than, chứ không phải của các nhà địa chất.

Chưa có tính toán nào công bố lượng nước vào mỏ

- Đề cập đến vấn đề khả thi của dự án, chúng tôi xin lưu ý là cho đến nay, chưa có "nhà khoa học" nào "tính toán" và "công bố" về lượng nước chảy vào công trình khai thác mỏ.

Số lượng nước chảy vào mỏ chỉ được đề cập duy nhất trong Báo cáo địa chất về kết quả thăm dò sơ bộ mỏ than Bình Minh từ những năm 80 của thế kỷ trước và do các chuyên gia địa chất tính toán trên cơ sở phỏng đoán theo một công thức, trong đó có nhiều thông số cần được kiểm định lại do các kỹ sư địa chất khi đó đã hiểu chưa chính xác các khái niệm có liên quan đến công nghệ khai thác mỏ hầm lò.

Chúng tôi rất ngạc nhiên khi TS. Quý khẳng định: "Hiện nay, về mặt khoa học, chúng ta chỉ có thể bơm tháo khô được lượng nước 6000-10.000 m3/h".

Ảnh minh họa (tuoitre)

Về mặt khoa học, gần đây tỷ phú Bill Gates đã đề xuất thực hiện một dự án bơm nước lạnh ở tầng đáy của Đại dương lên thay nước ở tầng trên để làm cho các cơn bão đổi hướng di chuyển từ Mỹ sang Cu Ba. Nếu nói về mặt khoa học thì việc khai thác than ở trên mặt trăng cũng khả thi, chứ đừng nói gì đến việc bơm 10.000m3/h nước ở ĐBSH.

- Về việc Hội đồng Tương trợ kinh tế SEV tham gia khảo sát bể than đồng bằng sông Hồng. Tôi thấy ở đây có sự nhầm lẫn giữa than ĐBSH với bauxite trên Tây Nguyên. Vì những năm 1980 tôi đã từng đại diện cho ngành than của VN trực tiếp làm việc tại Vụ Công nghiệp Than của Hội đồng tương trợ kinh tế (cùng với TS. Nguyễn Kim Tự đại diện cho ngành địa chất VN làm việc tại Vụ Địa chất của SEV). Đến nay, SEV không còn tồn tại, đã tự giải thể từ tháng 1/1991.

- Đề án thăm dò của NEDO là có thật. Khi mới bắt đầu triển khai Đề án của NEDO, tôi cũng may mắn được tham gia trong Ban điều hành. Ngay trong quá trình lập nội dung và nhiệm vụ thăm dò trước khi trình duyệt, chính tôi là người đã cương quyết đề nghị phía NEDO phải bổ sung trong Đề án nhiệm vụ đánh giá về điều kiện địa chất công trình và địa chất thuỷ văn. Nhưng NEDO không chịu. Vì họ chi tiền nên phía VN cũng phải chấp nhận nội dung Đề án do NEDO đề xuất là không nghiên cứu về địa chất thủy văn và địa chất công trình.

Bản thân tôi, do "căng" với NEDO về vấn đề này đã bị loại ra khỏi "cuộc chơi" rất vui vẻ đó. Mặc dù vậy, tôi biết rõ, thực tế không có lỗ khoan nào trong dự án của NEDO làm về địa chất công trình hay địa chất thuỷ văn. Các lỗ khoan của NEDO chỉ để kiểm tra việc đánh giá trữ lượng. Các số liệu về địa chất thuỷ văn hay địa chất công trình trong báo cáo tổng kết của NEDO là copy lại các số liệu từ những năm 83-84 do các chuyên gia của VN thực hiện. Và kinh phí thực hiện Đề án này cũng không lên tới 15 triệu USD.

Trao đổi thêm về việc phải làm mấy thử nghiệm

- Ngay tại cuộc họp gần đây của Hội đồng thẩm định, chúng tôi đã giải thích thêm cho rõ ý kiến tiếp thu của TKV bằng văn bản về vấn đề này. Vì điều kiện địa chất-mỏ của bể than ĐBSH rất ĐA DẠNG và rất PHỨC TẠP, nên phải thử nghiệm công nghệ.

Ở đây có 2 công nghệ cần thử nghiệm là khai thác hầm lò (UCM) và khí hoá than ngầm dưới lòng đất (UCG). Chỉ hai công nghệ này may ra không làm lún sụt mặt đất, không chiếm đất canh tác nông nghiệp, không phải di dời dân v.v. như yêu cầu của chính TKV đề ra. Các vỉa than nằm cách mặt đất từ 150m đến hàng ngìn mét. Với các độ sâu khác nhau, các công nghệ UCM và UCG đều có các giải pháp khác nhau hoàn toàn và có mức độ ảnh hưởng tới mặt đất cũng rất khác nhau.

Để có hy vọng thành công, TKV đã đề xuất thử nghiệm công nghệ ở các độ sâu khác nhau cho cả hai công nghệ UCG cả UCM. Như vậy, cần thử nghiệm 4 phương án công nghệ và cả 4 phương án này đều không có tiền lệ ở VN. Nếu phương án công nghệ này không thành công thì còn hy vọng vào các phương án khác.

Nếu tất cả các công nghệ thử nghiệm đều thành công thì có thể nói nền kinh tế VN có "phúc lớn". Nếu chẳng có phương án nào thành công thì cũng có cơ sở để yên tâm báo cáo với Chính phủ và Quốc Hội kịp thời chỉ đạo và có định hướng khác để cấp than cho nền kinh tế.

Về mặt kinh phí, TKV đều phải hợp tác với các đối tác nước ngoài (với tỷ lệ TKV từ 51-60%, các đối tác từ 40-49%) theo phương thức (giống như các hợp đồng về dầu-khí) các bên cùng chịu rủi ro.

Việc thử nghiệm triển khai ở những vị trí khác nhau, nhưng đều phải thực hiện các công việc kéo dài như nhau (từ 5 năm- đối với công nghệ UCG, đến 10 năm đối với công nghệ UCM). Nếu thử nghiệm lần lượt (xong cái này, mới làm cái kia) thì phải chờ 20-40 năm nữa TKV mới hoàn thành được mục tiêu và nhiệm vụ thử nghiệm.

Chúng tôi thấy tâm đắc với trả lời phỏng vấn của TS Nguyễn Sỹ Quí ở ý kiến: "Khai thác than chỉ có thời hạn nhất định, chỉ trăm năm và chứa đựng nhiều hiểm họa. Trong khi đó, vựa lúa có thể khai thác cả nghìn năm. Hãy cứ thử nghiệm cho thấu đáo. Nếu kết luận cuối cùng là khai thác than mà có lợi và giữ được lúa thì chúng ta làm. Còn không thì không bao giờ chấp nhận đánh đổi".

Chúng tôi hy vọng nhận được nhiều, và sẵn sàng cầu thị tiếp thu các ý kiến đóng góp, kể cả những ý kiến phê phán, phản bác nhưng phải có cơ sở và trung thực khách quan mang tính xây dựng.

Chúng tôi hiểu và đánh giá rất cao vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc thu thập những ý kiến trao đổi và đóng góp trên tinh thần xây dựng của đông đảo bạn đọc, quần chúng, nhân dân- những người được hưởng lợi cũng như chịu thiệt hại khi Đề án được triển khai.

Với nhiệm vụ được TKV giao và với tinh thần cầu thị, SHE đã cung cấp thông tin về những nội dung cơ bản của Đề án cho các cơ quan thông tin đại chúng (Báo Nhân dân, Vietnamnet, SGTT, Tienphongonline v.v.) và dự định sẽ có các ý kiến tiếp thu và/hoặc giải trình sau khi đã nhận được nhiều các ý kiến phản hồi từ độc giả. Trên thực tế, các ý kiến đóng góp, nhận xét, cảnh báo v.v. của độc giả đều rất quan trọng và có ích để SHE tiếp thu.

  • TS. Nguyễn Thành Sơn

"SHE được giao soạn thảo Đề án phát triển Bể than ĐBSH. Đề án đã được thảo luận, thống nhất với các đối tác nước ngoài, nhiều lần báo cáo và trình bầy, trao đổi, xin ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, các bộ ban ngành trước khi được Hội đồng quản trị của TKV thông qua trình Chính Phủ.

Đề án đã được Chính phủ giao Bộ Công Thương tổ chức thẩm định theo đúng các thủ tục và trình tự hiện hành. Cùng với việc thẩm định chính xác và khách quan cua Bộ Công Thương, và với tinh thần hết sức cầu thị, chúng tôi đã chủ động đề xuất, và được các cơ quan đại chúng ủng hộ, việc trao đổi, xin ý kiến rộng rãi của các đọc giả về Đề án.

Ngoài ra, theo kế hoạch, TKV đã giao và SHE đang thực hiện soạn thảo một bộ tài liệu hỏi-đáp về những vấn đề có liên quan, nhằm tiến tới tổ chức hội thảo rộng rãi về việc phát triển Bể than ĐBSH".

TS. Nguyễn Thành Sơn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét